Con Đường Trung Đạo Duy Nhất để giải thoát vĩnh viễn(The Middle Way)

Con Đường Trung Đạo Duy Nhất

để giải thoát vĩnh viễn

 

khỏi mọi căng thẳng, hiểu biết sai lạc

và bất toại nguyện (dukkha)

 

 

Thiền sư U Ottamasara


Chúng ta luôn luôn dựa vào sức mạnh của thứ gì đó hoặc ai đó (bên trong hoặc bên ngoài), tập trung vào các dạng thức hoặc sự thật tạo tác, vốn đều có sự tồn tại giới hạn trong không gian và thời gian. Tuy vậy, điều mà chúng ta không hiểu, đó là sức mạnh của tất cả các dạng thức đều bị giới hạn, và thứ gì bị giới hạn thì sẽ không có tự do. Đó là lý do vì sao hành động của chúng ta không tự do và sự hiểu biết của chúng ta không tự do, bởi vì trong hành động và sự hiểu biết, chúng ta dựa vào sức mạnh của thân và tâm, những thứ mà bản thân chúng đều có giới hạn và chịu sự thay đổi.

 

– Hành thiền không bao gồm sự thay đổi về nhãn hiệu hay tên gọi, cũng không bao gồm sự thay đổi về thân hay tâm, mà chỉ là thay đổi năng lượng phía sau hành động của chúng ta.

 

– Thay vì sử dụng năng lượng có giới hạn thu được từ việc dựa vào các dạng thức, chúng ta có thể học cách để hành động với năng lượng không giới hạn bằng cách vượt qua sự dính mắc với các dạng thức. Cho đến bây giờ, chúng ta luôn luôn tin tưởng/ hiểu rằng thứ gì đó hoặc ai đó luôn luôn kiểm soát hành động của thân và tâm chúng ta – đó là vô minh. Với pháp hành này, chúng ta học cách thay thế vô minh bằng minh. Khi chúng ta thành công với pháp hành, trí tuệ, chứ không phải vô minh, sẽ điều khiển thân và tâm chúng ta.

 

– Điều này được gọi là “thay đổi người kiểm soát”. Để thay đổi người kiểm soát, không cần thiết phải thay đổi hành động hoặc tâm chúng ta. Đó là lý do, trong pháp hành này, thân không quá quan trọng và tâm cũng không quá quan trọng. Trong xã hội loài người, thân và tâm được coi là quan trọng, nhưng xã hội loài người còn chưa hoàn thiện. Trên thực tế, không có gì là hoàn hảo, chừng nào chúng ta chỉ chú ý vào thân và tâm mình.

 

– Đó là lý do pháp hành này khác biệt – chúng ta là ai không quan trọng, chúng ta làm gì không quan trọng [1], nơi chúng ta sống không quan trọng. Thay đổi sức mạnh đằng sau hành động của chúng ta là quan trọng.

 

 – Bằng cách chú ý vào sự thật tuyệt đối, chúng ta cần tin rằng thứ gì đó hoặc ai đó là không có thật, mà chỉ là năng lượng vô thường luôn luôn đổi mới. Đó là quy luật vô thường (annica), đặc tính đầu tiên trong tam tướng, theo lời dạy của Đức Phật.

 

– Chúng ta nên cố gắng hiểu rằng tự nhiên vô thường luôn luôn đổi mới (luôn luôn thay đổi) là thật, … nhưng không phải là vô thường của thứ gì đó hay ai đó … bởi vì thứ gì đó hay ai đó là không có thật trong sự thật tuyệt đối /chân đế nhưng … chỉ là sự thật tạo tác /tục đế, sự thật tương đối.

 

Bởi vì không hiểu biết về sự thật tuyệt đối, chỉ là tự nhiên vô thường luôn luôn đổi mới (dukkha sacca – khổ đế), sự hiểu biết sai lầm về vô thường của thứ gì đó hay ai đó (samudaya sacca –  tập đế) xuất hiện.

 

Đức Phật nói trong sự thật tuyệt đối, thứ gì đó như là đau, dễ chịu, linh hồn, bản ngã, thực thể, …; ai đó như là tôi, bạn, cá nhân, chúng sinh, …; tồn tại trong một khoảng thời gian mà chúng ta có thể nhận thức, là không có thật … mà chỉ là sự thật tạo tác.

 

Trong Dhatukatha, “Bài pháp về nguyên tố/năng lượng”, Đức Phật nói “Nguyên tố/năng lượng là khoảng không của chúng sinh”. Nguyên tố/năng lượng không chiếm hữu những đặc điểm chức năng của các chúng sinh. Chúng sinh và diệt trong một khoảng thời gian vô cùng ngắn. Trong một cái nháy mắt hoặc trong một ánh chớp, kéo dài trong khoảng một phần triệu giây  (10 -6 giây), những yếu tố tâm lý sinh và diệt một ngàn tỷ lần (1012) lần. Đó chỉ là ước lượng. Trong các chú giải có đưa ra một con số lớn hơn là 1015. Do đó những yếu tố/ năng lượng tinh thần sinh và diệt  1015 x 10= 1021  lần mỗi giây. Thời gian cực kỳ ngắn ngủi này cũng được nhắc đến trong Anguttara Nikaya.

 

Về vấn đề vật chất, vì chúng tồn tại trong 17 sát na tâm, chúng sinh và diệt 1021/17 lần.

 

Nhưng bởi vì chức năng của nguyên tố dẫn đến sự phát sinh của khái niệm liên tục, tập hợp và hình thành ý tưởng phát sinh của (1) cái năng lượng ban đầu cần phải được sử dụng khi một hành động chuẩn bị được thực hiện và (2) sự quan tâm cần có khi hành động được tiến hành cho đến khi hoàn tất. Và nó dẫn đến ý tưởng hệ quả (3) “Tôi có thể thực hiện” và (4) “Tôi có thể cảm nhận”. Do đó 4 chức năng ảo tưởng về đặc thù của chúng sinh đem đến một sự tin tưởng sâu dày về sự tồn tại của họ. Nhưng những nguyên tố không có thời gian hoặc khoảng tồn tại để thực hiện những chức năng này. (Từ Dhatukatha, PTS).

 

Trong thực tại tuyệt đối, không có gì cả mà chỉ có dòng chảy năng lượng tinh thần và vật chất vô thường luôn luôn đổi mới với tốc độ rất cao vượt ngoài khả năng nhận thức của 6 giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý).

 

Vì vậy, không thể biết được rằng không có gì cả mà chỉ có dòng chảy năng lượng vô thường luôn luôn đổi mới với tốc độ rất cao như đã nói ở trên, chúng ta bị lừa gạt rằng thứ gì đó như là cảm giác, suy nghĩ, đau, dễ chịu, phồng, xẹp … là thật; ai đó như tôi, bạn, một cá nhân … là thật; sự vô thường của ai đó là thật, … sự vô thường của thứ gì đó là thật.

 

Bằng việc không quên chỉ duy nhất sự thật tuyệt đối này, bản chất tự nhiên vô thương luôn luôn đổi mới (dukkha sacca  – khổ đế) nhiều nhất có thể, sớm hay muộn chúng ta sẽ có thể chấp nhận bản chất tự nhiên vô thường luôn luôn đổi mới là sự thật, và sự vô thường của thứ gì đó như là cảm xúc, cảm giác, phồng, xẹp, đau hoặc dễ chịu … là không thật, và sự vô thường của ai đó như là tôi, bạn, một cá nhân, một chúng sinh … là không thật.

 

Trong thực tại tuyệt đối (chân đế), thứ gì đó, ai đó, nơi nào đó … là không có thật, do đó làm sao ta có thể nói về sự vô thường của thứ gì đó, ai đó, lúc nào đó, nơi nào đó … mà chúng ta có thể nhận thức, là thật được? Nhưng chúng và sự vô thường của chúng có vẻ là thật… là bởi vì sự hiểu biết sai lạc về thực tại tuyệt đối, bản chất tự nhiên vô thường luôn luôn đổi mới (dukkha sacca).

 

Trong khi đó, bạn cũng có thể chú ý đến thứ gì đó như là cảm xúc, cảm giác, phồng, xẹp, đau hay dễ chịu … là không thật, … và ai đó như là tôi, bạn, một cá nhân, một chúng sinh là không thật

 

nhưng

chỉ có bản chất tự nhiên của sự hiểu biết sai lạc/ thừa nhận rằng

thứ gì đó hoặc ai đó thực sự tồn tại trong một khoảng thời gian,

là thật.

 

Thực tại tuyệt đối có sức mạnh không giới hạn. Càng chấp nhận/ hiểu biết về thực tại này, ta càng có thể buông xả thân và tâm, là phồng, xẹp, cảm xúc, cảm giác, đau và dễ chịu, một cách tự động.

 

Chúng ta có thể nhớ hay tin tưởng sự thật tuyệt đối này vào bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu, trong bất cứ tư thế nào, với mọi tình trạng sức khỏe.

 

Theo cách này, chúng ta có thể thực hành một cách tự do mà không cần bận tâm về việc phải thực hành gì, thực hành như thế nào, thực hành trong bao lâu, hoặc thực hành ở đâu. Tuy nhiên, chúng ta không thể tới được mục đích của pháp hành nếu không tạo ra nỗ lực, nhưng nỗ lực này phải không có cái “tôi” ở trong đó, không dựa vào bất cứ ai hay bất cứ thứ gì.

 

Chúng ta cũng cần phải chấp nhận rằng,

ngay cả Chánh Tinh Tấn này cũng chỉ là

dòng chảy vô thường của năng lượng luôn luôn biến đổi.

 

Chúng ta có thể tránh sự dính mắc bằng cách chỉ chú ý tới bản chất tự nhiên vô thường luôn luôn biến đổi. Ngay cả sự chú ý cũng là vô thường, do đó làm sao ta có thể nói rằng ai đó đang chú ý? Không có ai thực hành cả; chỉ có sự thực hành thôi.

Hiểu biết chân lý là hiểu về bản chất tự nhiên vô thường

luôn luôn biến đổi duy nhất.

“Không phải là sự vô thường của thứ gì đó hay ai đó.”

Hãy hành thiền và ngừng suy nghĩ rằng ta đang làm việc gì đó.

Bằng cách chấp nhận sự thật này, chúng ta có thể giải thoát mình khỏi ngục tù của tà kiến, niềm tin vào ‘thứ gì đó’, ‘một thực thể’, ‘một linh hồn’, ‘một suy nghĩ’, ‘một cảm xúc’, ‘một cảm giác’, ‘đau’, ‘dễ chịu’, ‘phồng’, ‘xẹp’, ‘sự hít vào’, ‘sự thở ra’, ‘ai đó’, ‘một cá nhân’, ‘tôi’, ‘con đường của tôi’ và ‘của tôi’ thực hoặc tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định như là một giây, một phút, một giờ, một năm hoặc một trăm năm …

 

Chúng ta vẫn có thể làm những gì cần làm cho cơ thể. Chúng ta vẫn có thể dùng cơ thể theo cách của nó, miễn là chúng ta chấp nhận hoặc chánh niệm duy nhất về sự thật tuyệt đối của vô thường luôn luôn đổi mới (dukkha sacca) … hoặc … duy nhất về sự hiểu biết sai lạc cho rằng ai đó hay thứ gì đó là thật (samudaya sacca  – tập đế)  – thì chúng ta sẽ không thể chấp nhận thân này là thứ gì đó hay ai đó, nhưng … chỉ là dòng chảy năng lượng vô thường luôn luôn biến đổi với tốc độ rất nhanh, vượt xa sự nhận thức của chúng ta (mắt, mũi, lưỡi, tai, thân và ý).

 

– Khi chúng ta thực hành thiền, làm sao có thể có một hành giả ở đó? Thiền chỉ là thiền. Chỉ là thiền mà thôi. Không nghĩ rằng thứ gì đó hoặc ai đó hoặc thời gian hoặc nơi chốn là thực.

 

– Mục đích của pháp hành này là để loại bỏ niềm tin vào thứ gì đó hay ai đó là thực. Thực tại tuyệt đối chỉ là sự hiểu biết sai lạc về thứ gì đó hay ai đó là thực … bởi vì không có khả năng hiểu được duy nhất về bản chất tự nhiên vô thường luôn luôn đổi mới đang diễn ra với tốc độ cao lặp đi lặp lại và liên tục.

 

– Khi chúng ta chấp nhận bất cứ tình huống nào theo cách này, chúng ta có thể tạm dừng thói quen tâm lý luôn luôn bận rộn với thứ gì đó và mọi thứ, ai đó và mọi người, thời gian và nơi chốn. Nếu chúng ta không dừng chúng lại, nó sẽ không bao giờ kết thúc.

 

– Nếu chúng ta chấp nhận rằng có thứ gì đó là thật, thì sẽ phải có thứ gì đó tạo ra nó, và một thứ gì đó tạo ra thứ này, … nó sẽ là vô tận.

 

Nếu chúng ta chấp nhận giây, phút, giờ … là một thực thể, thì sẽ có thời gian vô tận trước hành động hiện tại và thời gian vô tận theo sau.

 

Đó là lý do chúng ta nên từ bỏ ý tưởng về bất cứ thứ gì hoặc bất cứ ai, thời gian và nơi chốn; tốt hơn chỉ nên chấp nhận duy nhất bản chất tự nhiên vô thường của sự hiểu biết sai lạc cho rằng thứ gì đó, ai đó, lúc nào đó, nơi nào đó là thật.

 

Sớm hay muộn, theo cách này, bạn cũng có thể hiểu rằng

sự vô thường của thứ gì đó hay ai đó

hay lúc nào đókhông thật

nhưng …

Chỉ Có Sự Hiểu Biết Sai Lạc rằng vô thường của thứ gì đó

hay ai đó hay lúc nào đó là thật,

là có Thật.

 

Bản thân điều này sẽ triệt tiêu dính mắc hoặc nỗi buồn về vô thường của ai đó hay thứ gì đó hay lúc nào đó hay nơi nào đó. Khi đó chúng ta có thể sử dụng thân và tâm một cách tự do, không có nắm giữ hay hiểu biết sai lạc.

 

Vào lúc ban đầu, mặc dù bạn nên hành thiền nhắm mắt, sau đó, bạn có thể mở mắt hoặc nhắm mắt nhưng bạn cần phải hiểu rằng mở mắt hay nhắm mắt không quan trọng và chỉ cần nhớ rằng sự thật tuyệt đối là quan trọng.

 

Bạn có thể làm một số việc, có thể tập trung vào hơi thở hoặc ở bụng, tùy theo thói quen hành thiền trước đó … nhưng bạn cần hiểu rằng bất cứ thứ gì bạn muốn làm hoặc tập trung bởi vì thói quen cũ của bạn, là không hoàn toàn quan trọng, … nhưng … chỉ có ghi nhớ hoặc chánh niệm về –

1)     sự thật về bản chất tự nhiên vô thường luôn luôn đổi mới (dukkha sacca) hoặc

2)     sự thật về bản chất tự nhiên của sự hiểu biết sai lạc về thứ gì đó, ai đó, khi nào đó, nơi nào đó, là thật (samudaya sacca), là thực sự quan trọng.

– Một khi chúng ta bắt đầu suy nghĩ dưới dạng thân như là phồng, xẹp, cảm giác, đau, dễ chịu và tâm là thật, nó sẽ không bao giờ kết thúc. Một khi chúng ta bắt đầu suy nghĩ về bản thân và cuộc sống của mình, nó sẽ không bao giờ chấm dứt.

 

Để ngừng lại hành động vô tận này, chúng ta cần phải nhận ra

và không quên chỉ duy nhất

sự thật tuyệt đối của vô thường (dukkha sacca)

hay sự thật tuyệt đối của sự hiểu biết sai lạc (samudaya sacca) rằng ai đó, thứ gì đó như là ‘một cơn đau’,

‘một sự dễ chịu’, ‘một cảm xúc’, ‘một cảm giác’, ‘suy nghĩ’,

‘phồng’, ‘xẹp’, ‘thở vào’, ‘thở ra’,

‘nảy sinh nơi sáu cửa giác quan’

là thật

hoặc tồn tại trong một khoảng thời gian.

Sự thật này cho chúng ta sức mạnh không giới hạn. Nó giải thoát chúng ta khỏi dính mắc vào thứ gì đó hay ai đó, những điều giới hạn sức mạnh của chúng ta.

 

– Không nên nghĩ rằng đây là một phương pháp đặc biệt. Làm thì chỉ là làm. Thực hành chỉ là thực hành mà thôi, nó không phải là sự thực hành của một ai đó. Thân chỉ là thân. Tâm chỉ là tâm. Trí tuệ chỉ là trí tuệ. Không có ai sở hữu hành động, thân và tâm của chúng ta, và không có ai sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên không giống như thân và tâm, trí tuệ tuyệt đối (sự giác ngộ thực sự) là vĩnh viễn. Nó là mãi mãi.

 

– Thân và tâm không phải là mãi mãi, nó là vô thường. Điều chúng ta đang làm thì không quan trọng, nó là vô thường hay không có thực. Điều gì xảy ra cho thân và tâm chúng ta không quan trọng, nó là vô thường hay không có thực. Thân có thể nóng hay lạnh, kinh nghiệm sự đau hay dễ chịu. Tâm cũng có thể định tĩnh hay trạo cử, kinh nghiệm sự đau khổ hay vui thích.

 

Đó là bản chất tự nhiên của thói quen đã được tạo tác của thân và tâm. Hãy để bản chất tự nhiên đã được tạo tác của thân và tâm ấy được như nó đang là. Đừng làm xáo trộn bản chất tự nhiên của chúng bởi vì bất cứ điều gì bạn có thể hiểu về thân và tâm chúng ta như là tốt hay xấu, dễ mến hay không dễ mến …; là không thật và không hoàn chỉnh.

 

– Để thực hành một cách đúng đắn, chúng ta phải sử dụng thân và tâm như chúng đang là; tuy nhiên, chúng không bị nắm giữ hoặc bị nghĩ như là thứ gì đó có thật.

 

Vấn đề tôi đang giải thích ở đây không phải là về sự tồn tại

của thứ gì đó hay ai đó, thời gian hay nơi chốn và

không phải về sự vô thường của thứ gì đó hoặc ai đó,

thời gian hay nơi chốn.

 

Nó chỉ liên quan tới chỉ là bản chất tự nhiên vô thường luôn luôn đổi mới hoặc chỉ là bản chất tự nhiên vô thường của sự hiểu biết sai lạc về tất cả các dạng thức/ tất cả hiện tượng (sankhara) là thực.

 

 – Do bởi pháp hành này, trí tuệ tuyệt đối phát sinh, và sẽ hiểu được chỉ là bản chất tự nhiên vô thương thực sự (không phải là vô thường của ai đó cũng không là vô thường của thứ gì đó).

 

Tiếp tục phát triển và nuôi dưỡng trí tuệ này sẽ dẫn đến sự viên mãn của trí tuệ, thứ hiểu được bản chất thường hằng của Niết Bàn. Đó là sự thật, thứ thường hằng, không giới hạn và siêu việt.

 

* * * * * * *

 

Tứ Diệu Đế – Bốn Sự Thật Cao Thượng

 

Sự Thật Thứ Nhất – Dukkha sacca = Tự Nhiên Vô Thường Luôn Luôn Đổi Mới (Không phải sự vô thường của thứ gì đó) (Sự thật về bất toại nguyệnKhổ Đế).

 

Sự Thật Thứ Hai – Samudaya sacca = Hiểu biết sai lạc về thứ gì đó, ai đó, khi nào đó là thật (Sự thật về Nhân sinh bất toại nguyệnTập Đế).

 

Sự Thật Thứ Ba – Nirdha sacca = Tự Nhiên Thường Hằng (Sự thật về sự Diệt trừ tự nhiên Vô thường hay bất toại nguyệnDiệt Đế).

 

Sự Thật Thứ Tư – Magga sacca = Chánh Định, Chánh Niệm, Chánh Tinh Tấn, Chánh Kiến, suy nghĩ chân chánh về Sự thật Thứ nhất hoặc Thứ hai (Sự thật về Con Đường Trung Đạo Duy Nhất dẫn tới Tự Nhiên Thường Hằng).

 

Giải thích của Thiền sư Tsunami U Ottamasara

 

 – Làm việc gì đó hay thay đổi hành động của thân và tâm thì không phải là hành thiền thực sự. Mục đích của thiền là để tìm ra hoặc khám phá trí tuệ tuyệt đối, thứ sẽ nằm sau hành động của thân và tâm chúng ta.

Bằng cách thực hành thành công phương pháp này,

trí tuệ tuyệt đối với sức mạnh không giới hạn sẽ

nằm ở phía sau tất cả hành động của chúng ta

và nó sẽ bảo vệ và hướng dẫn chúng ta.

 

 – Pháp hành này khá là trái ngược với truyền thống. Nó là … thay đổi sức mạnh phía sau hành động của chúng ta. Đó là lý do vì sao … chúng ta là ai không quan trọng, chúng ta làm gì hoặc nơi chúng ta sống không quan trọng. Với xã hội loài người, thân và tâm là quan trọng nhưng xã hội loài người thì không hoàn hảo, … không có ai hoàn hảo, không có thứ gì là hoàn hảo bởi vì chúng ta đang tập trung vào thân và tâm bị giới hạn này mà thôi. Tất cả hành động và hiểu biết của chúng ta thì không có tự do và bị giới hạn.

 

 – Chỉ cố gắng tin tưởng và không quên về sự thật duy nhất trong mọi lúc, rằng không có thứ gì, không có ai, chỉ là năng lượng hay tự nhiên vô thường luôn luôn đổi mới mà thôi. Bằng cách tin tưởng sự thật này ngày càng nhiều, chúng ta chú ý đến thân và tâm ngày càng ít.

 

 – Thân và tâm chúng ta chỉ là để sử dụng mà thôi. Pháp hành cũng chỉ là pháp hành mà thôi. Chỉ là thực hành tự do trong mọi lúc, mọi nơi và trong mọi tình huống. Đừng nghĩ rằng cần làm gì, làm như thế nào, làm trong bao lâu. Hãy cứ thử mà không có cái tôi, không quên sự thật về bản chất tự nhiên vô thường luôn luôn biến đổi, rằng nó không phải là thứ gì, không phải là ai cả. Sự tinh tấn không có sự gượng ép của ai đó hay của thứ gì đó này cũng là  bản chất tự nhiên vô thường luôn luôn đổi mới mà thôi.

Đừng nghĩ về thứ gì đó hoặc ai đó hoặc thời gian hoặc nơi chốn.

Hãy chỉ chú ý

về bản chất tự nhiên vô thường luôn luôn đổi mới mà thôi.

Hành động này cũng chỉ là bản chất tự nhiên vô thường mà thôi.

 

 – Hành động này không phải là thứ gì đó. Không có ai thực hành mà chỉ có sự thực hành mà thôi. Hiểu biết về sự thật này cũng chỉ là hiểu biết mà thôi, không phải là thứ gì đó, không phải là ai đó, chỉ là bản chất tự nhiên vô thường. Chỉ hành thiền mà thôi. Dừng lại ý tưởng về việc làm một điều gì đó.

 – Tự do bằng cách chấp nhận sự thật này chỉ là năng lượng vô thường luôn luôn đổi mới mà thôi, không phải là thứ gì đó, không phải là ai đó.

 

 –  Chúng ta có thể làm những gì cần làm với cơ thể. Chúng ta có thể sử dụng cơ thể theo cách của nó … nhưng cố gắng không quên sự thật rằng nó không phải là thứ gì, không phải ai đó, chỉ là năng lượng vô thường luôn luôn đổi mới mà thôi.

 

 – Pháp hành này phải không có cái ‘tôi’, không có thứ gì đó. Hành thiền chỉ là hành thiền mà thôi. Chỉ hành thiền. Đừng nghĩ về thứ gì đó hay ai đó hay thời gian hay nơi chốn.

 – Pháp hành này có mục đích là để tháo gỡ sự hiểu biết sai lạc rằng thứ gì đó hay ai đó là có thật.

 

Tin tưởng … không phải vào thứ gì đó, không phải vào ai đó …

nhưng chỉ là bản chất tự nhiên vô thường luôn luôn đổi mới.

Theo cách này,

chúng ta chấm dứt công việc truyền thống của cái tâm.

 Tâm chúng ta luôn luôn bận rộn với thứ gì đó hoặc mọi thứ, … ai đó hoặc mọi người, … thời gian và nơi chốn. Nó sẽ không bao giờ kết thúc.

 – Nếu chúng ta chấp nhận điều gì đó, sẽ có vô hạn thứ gì đó ở phía sau mỗi thứ này. Nếu chúng ta chấp nhận thời gian, … giây, phút, giờ … sẽ có thời gian vô tận trước mỗi giây. Đó là lý do vì sao để ngưng lại thói quen truyền thống của tâm, việc thiết yếu là tin tưởng vào sự thật tuyệt đối rằng không là thứ gì đó, không phải ai đó, không phải thời gian, không phải nơi chốn … mà chỉ là bản chất tự nhiên vô thường luôn luôn đổi mới mà thôi.

– Pháp hành này sẽ chấm dứt dính mắc vào thứ gì đó hay ai đó. Nhờ có pháp hành này, khả năng có thể sử dụng thân và tâm một cách tự do, không có dính mắc, hoặc không có hiểu biết sai lạc về thứ gì đó, sẽ xuất hiện.

– Nếu chúng ta nghĩ về cuộc sống, nó sẽ không bao giờ ngừng lại. Để chấm dứt công việc vô tận của chúng ta, hãy tin tưởng vào sự thật tuyệt đối rằng chỉ là bản chất tự nhiên vô thường luôn luôn đổi mới mà thôi, … nhưng không phải là thứ gì đó, không phải là ai đó.

– Sự tin tưởng của chúng ta phải không có cái ‘tôi’ ở trong đó, … không có ai đó, … không có thứ gì đó. Nó phải là pháp hành tự do,  chỉ là sự thực hành, chỉ làm mà thôi.

– Làm bởi một ai đó là sử dụng sức mạnh có giới hạn. Làm chỉ là làm thì sử dụng sức mạnh vô tận.

Thiền tập là cố gắng vượt qua mọi giới hạn.

Chỉ chấp nhận bản chất tự nhiên vô thường

luôn luôn đổi mới mà thôi,

nó sẽ chấp dứt sự suy nghĩ hay chú ý tới thứ gì đó hay ai đó.

 – Trung đạo chỉ là con đường mà thôi, không phải con đường này hay con đường đó. Thực hành cũng chỉ là thự hành mà thôi, không có ai thực hành cả hết. Trí tuệ cũng không phải là thứ gì đó, không phải là ai đó, nó là trí tuệ tuyệt đối thường hằng. Bởi vì pháp hành đúng đắn, sự kết nối giữa tâm ta và trí tuệ tuyệt đối sẽ phát sinh. Không có ai sở hữu trí tuệ tuyệt đối này cả.

– Thân và tâm chúng ta chỉ là giả tạm mà thôi, không phải là mãi mãi, đó là lý do vì sao, không quên bản chất tự nhiên vô thường là điều quan trọng. Điều chúng ta đang làm thì không quan trọng.

– Điều gì xảy ra với thân và tâm chúng ta cũng không quan trọng. Thân chúng ta có thể nóng hay lạnh, đau hay thoải mái. Thân và tâm chúng ta hoạt động theo bản chất tự nhiên của chúng. Đừng làm xáo trộn bản chất tự nhiên đó.

– Chỉ tin tưởng vào bản chất vô thường luôn luôn đổi mới mà thôi … nhưng không là thứ gì đó … không là ai cả. Nếu chúng ta chú ý đến thân và tâm của chúng ta, chúng ta chỉ có thể hiểu biết về thân và tâm mà thôi. Thân và tâm này chỉ để sử dụng mà thôi. Không phải để dính mắc. Không phải để chiếm giữ. Không phải để nghĩ nó là thật.

Vấn đề tôi đang giải thích không phải là về thứ gì đó, …không phải ai đó, … không phải thời gian, … không phải nơi chốn … chỉ là bản chất tự nhiên vô thường luôn luôn đổi mới mà thôi. Nhờ có pháp hành này, trí tuệ, vốn không phải là thứ gì đó, sẽ xuất hiện, thứ hiểu biết được bản chất tự nhiên vô thường.

– Trí tuệ liên tục trong một vài phút sẽ dẫn đến sự viên mãn của trí tuệ tuyệt đối, vốn hiểu được bản chất tự nhiên vô thường.

Chú ý : Điều chúng ta đang làm hoặc điều gì xảy ra với thân và tâm của chúng ta là không quan trọng, không lãng quên sự thật rằng không có thứ gì, không có ai cả, chỉ là bản chất tự nhiên vô thường luôn luôn đổi mới, là điều quan trọng.


[1]    Tất nhiên, điều này không cho phép chúng ta có quyền làm hại đến người khác bằng việc phá giới, vốn là nền tảng thiết yếu cho xã hội loài người. Tuy nhiên, bằng cách thay đổi cách nhìn, chúng ta có thể phát triển trí tuệ và diệt trừ những phiền não có thể khiến chúng ta phạm ngũ giới.

SỰ CAN ĐẢM (Courage & Right Understanding)

SỰ CAN ĐẢM

Chúng ta cần phải can đảm làm những việc sau:

(1)   Tránh xa các bất thiện pháp

(2)   Tránh các hành động, lời nói, ý nghĩ không lợi ích

(3)   Làm các thiện pháp lợi lạc như bố thí (dana), trì giới (sila), phát triển tâm trí (bhavana)

(4)   Nói về những thiện pháp

(5)   Làm những việc thiện tâm trí như hành thiền định samatha và thiền tuệ vipassana

Dám làm các bất thiện pháp khiến chúng ta không có can đảm trong việc từ bỏ các bất thiện pháp. Bất thiện pháp, làm việc không nên làm và làm việc muốn làm là đang làm với tham muốn. Làm việc mà đặt trọng tâm vào mong muốn là đang đặt trọng tâm vào ý niệm về cái ngã (atta). Kết quả là, chúng ta sẽ nói như mong muốn của mình mà không chú trọng xem nó có lợi ích hay không, có nên nói hay không.

Liên quan đến việc phát biểu và nói chuyện, người ta có xu hướng tập trung vào hành động phát biểu hoặc nói chuyện mà không suy xét khi nào thì nói và tiếp cận thế nào cũng như không suy xét về thời gian, nơi chốn và tình huống

Về mặt bản chất, người ta có xu hướng nói bất cứ điều gì họ có thể nói và muốn nói. Khi nói như vậy, chúng ta sẽ không đủ can đảm để nói điều nên được nói. Nếu nói bất cứ điều gì với tham muốn, tức là chúng ta đặt trọng tâm vào tham muốn và vào bản thân mình, chúng ta coi ai đó hay cái gì đó là thực tại. Làm bất cứ điều gì chúng ta có thể làm là sức mạnh tạo nghiệp (kamma) (có nghĩa là sử dụng khả năng mà chúng ta có). Nói cách khác, chúng ta đang dừng lại với các hành động tạo nghiệp (kamma)

Liên quan đến các hoạt động tâm trí, chúng ta không hài lòng với bất cứ điều gì chúng ta mong muốn không hài lòng, chúng ta hoài nghi bất cứ điều gì chúng ta muốn hoài nghi, chúng ta nghĩ bất cứ điều gì chúng ta muốn nghĩ. Những ví dụ này cho thấy  tâm luôn hành động theo cách truyền thống, chú trọng vào ai đó như là tôi, bạn hay cái gì đó. Hành động như vậy là làm với tham, sân, si. Vì vậy, cần có sự can đảm để tránh xa những việc làm đó.

Tất cả mọi chúng sinh, bao gồm con người và các loài vật có thói quen làm mọi thứ với dính mắc và tham muốn. Ví như người nghệ sỹ biểu diễn đặt toàn bộ giá trị của họ vào tác phẩm nghệ thuật và tác giả diễn thuyết dính mắc vào các bài nói. Tương tự, vận động viên thể thao tham gia vào các cuộc thi đấu vì đó là sở thích của họ

Cũng như thế, hành động bố thí, cúng dường (dana) và giữ giới xuất phát từ sự tham muốn. Chúng ta làm mọi thứ với tham muốn, chú ý vào cái gì đó, ai đó, thời gian, nơi chốn. Chúng ta làm bất cứ cái gì chúng ta có thể làm và bất cứ cái gì chúng ta mong muốn làm, với sự dính mắc. Vì vậy, tất cả các hành động của chúng ta đều dựa trên tham, sân, si. Làm với tham, sân, si sẽ càng làm tăng tham, sân, si.

Theo đuổi tham muốn thì càng thêm tham muốn. Nếu chúng ta làm điều chúng ta muốn làm, mong muốn của chúng ta càng mạnh mẽ. Chúng ta càng làm với tham muốn, tham muốn càng mạnh.

Tránh làm các bất thiện pháp là cố gắng chống lại hành động làm bất cứ điều gì chúng ta muốn và bất cứ điều gì chúng ta có thể làm. Không cần phải xét đến sự tham muốn và khả năng, mà cần chú ý đến liệu việc đó có nên làm hay không.

Khi ăn, không chú ý đến cái muốn ăn và muốn ăn bao nhiêu mà nên chú ý đến cái gì nên ăn và nên ăn bao nhiêu. Nếu ăn quá no, khi hành thiền sẽ uể oải, mụ mị. Nếu ăn với sự tham muốn mà không cân nhắc cái gì nên ăn và ăn bao nhiêu thì sẽ gặp vấn đề liên quan. Tâm đói thức ăn và mụ mị, uể oải vì ăn quá no đều khổ. Nếu ăn cái nên ăn thì sẽ không có nhiều vấn đề. Tâm đói xuất hiện do chúng ta thực hành theo thói quen như vậy. Chúng ta làm mọi thứ với sự dính mắc và vì thế, nó trở thành thói quen. Chúng ta muốn ngủ khi đến giờ đi ngủ, chúng ta ăn khi đến giờ ăn. Những hành động đó xuất phát từ sự dính mắc vào thói quen ăn và ngủ. Không cần thiết phải ngủ và ăn như thường lệ khi thiền vì thiền không tiêu tốn năng lượng.

Bằng việc cố gắng bố thí (dana), trì giới (sila), hành thiền (bhavana) theo như điều chúng ta nên làm, chúng ta sẽ có thể làm các thiện pháp cho đến khi tròn đủ ba la mật (parami). Chúng ta sẽ thoát khổ (tham, sân, si) bằng việc làm các việc nên làm. Vô lượng các vị Phật đã giác ngộ và giải thoát. Vô lượng con người, Chư thiên (deva), Phạm Thiên (Brahma) đã giác ngộ và giải thoát dưới sự dạy Pháp của từng vị Phật.

Có những việc nên làm, có những lời nói nên nói, có những ý nghĩ nên nghĩ, một cách nguyên bản. Bất cứ điều gì chúng ta làm, chúng ta phải chú trọng đến sự tư duy đúng đắn như là cái gì nên làm, cái gì nên nói. Nếu không, chúng ta sẽ không thoát khỏi tham muốn nếu chúng ta tập trung vào bất cứ cái gì chúng ta muốn làm và bất cứ cái gì chúng ta có thể làm.

Có những sự dính mắc mạnh mẽ vào cái tâm, liên quan đến đối tượng của ngũ quan như là: đối tượng thị giác, âm thanh, mùi, vị và sự xúc chạm.

Như là: Có sự thích và không thích liên quan đến một số lượng những đối tượng thị giác.

Có sự thích và không thích liên quan đến một số lượng các âm thanh.

Có sự thích và không thích liên quan đến một số lượng các mùi

Có sự thích và không thích liên quan đến một số lượng các vị

Có sự thích và không thích liên quan đến một số lượng các sự xúc chạm (ngọt, chua, đắng, cay)

Chúng ta muốn biết nhiều thứ như thế giới, con người, Chư thiên (Deva và Brahma). Tất cả những mong muốn đó là vì chúng ta dính mắc vào ý nghiệp (kamma). Tất cả các hành động của thân, khẩu và ý của chúng ta đều do các tham muốn của chúng ta. Tất cả các hành động, lời nói, suy nghĩ đều dựa trên ý niệm sai lầm về con người, ai đó, một chúng sinh, một cá nhân và một bản ngã (atta)

Tránh xa các việc bất thiện có nghĩa là cố gắng tránh xa suy nghĩ, lời nói và việc làm được làm bởi sự chú trọng vào tham muốn và khả năng của chúng ta.

Làm cái chúng ta muốn làm là làm với sự dính mắc vào hành động. Chúng ta thường làm điều gì đó với tham muốn. Đôi khi chúng ta làm mà thậm chí còn không muốn làm. “Cái chúng ta muốn làm và cái chúng ta không muốn làm. Cái chúng ta muốn nói và cái chúng ta không muốn nói. Cái chúng ta muốn biết và cái chúng ta không muốn biết” đều do sự dính mắc của chúng ta. Để giảm những sự dính mắc này, chúng ta phải làm cái nên làm, là bố thí, trì giới, hành thiền (dana, sila, bhavana). Cố gắng giữ tâm đến: (1) làm các thiện pháp, (2) người lãnh đạo mẫu mực, Đức Phật, (3) Phật, Pháp, Tăng; (4) Giáo Pháp của Đức Phật.

Như vậy, hành động, lời nói, ý nghĩ của chúng ta xuất phát từ các hành động, chủ đề, suy nghĩ liên quan đến Phật, Pháp, Tăng. Chúng ta cần từ bỏ và tránh xa việc làm cái chúng ta muốn làm và cái chúng ta có thể làm để làm những việc thân, khẩu, ý như thế.

Làm các thiện pháp không thì không đủ. Mặc dù chúng ta hành thiền, mặt khác, chúng ta vẫn làm các việc thế gian. Tất cả chúng ta (bố mẹ, con cái, chồng, vợ, người độc thân) có những quan điểm đời thường và cư xử như những người bình thường. Thói quen hành động và cái biết của chúng ta dựa trên cơ sở cá nhân (chúng sinh hoặc con người) vì theo thói quen, chúng ta chú ý đến yếu tố cá nhân.

Liên quan đến việc hành thiền, chúng ta coi chúng ta là thực tại. Theo lời dậy của Đức Phật và các thiền sư, không có con người nào cả. Chúng ta chấp nhận điều đó chỉ về mặt tâm trí hữu thức mà về mặt vô thức thì không. Cố gắng chấp nhận điều đó cả ở cấp độ hữu thức và vô thức (cả trí não và tâm)

Trong tâm của chúng ta, có sự dính mắc vào các chúng sinh có sinh mạng, như con người, cá thể, Chư thiên, Phạm thiên, đàn ông, đàn bà, những sự thật ngụy tạo. Vì vậy, mọi hành động mà chúng ta đã làm dựa trên người, cá nhân, động vật, đàn ông, đàn bà – những sự thật ngụy tạo. Tương tự như thế, các chủ đề, ý niệm đều về các sự thật ngụy tạo như là cá nhân, đàn ông, đàn bà, bệnh, ý niệm này kia…

Thường thì có các ý niệm này, chúng ta cần phải làm việc vất vả để duy trì mức sống tiêu chuẩn và cùng lúc, chúng ta cũng cần hành thiền nhanh chóng để có thể làm các công việc thế gian và hưởng thụ những thỏa mãn giác quan một cách an toàn, không lo lắng. (Lưu ý: Người Myanmar tin rằng sau khi hành thiền đến khi đạt đến một mức độ trí tuệ nào đó, họ có thể hưởng thụ những việc thế gian và sự thỏa mãn mà không lo lắng và bận tâm.) Loại hiểu biết này không đúng. Người ta không hiểu rằng người ta cần phải làm các thiện pháp, tránh xa các bất thiện pháp. Cố gắng bố thí (dana), trì giới (sila), hành thiền (bhavana) một cách không giới hạn, hoàn hảo và tinh tấn.

Trong trường hợp tránh xa các bất thiện pháp, chỉ tránh điều chúng ta muốn tránh, không thể được coi là làm điều nên làm. Chúng ta đặt trọng tâm vào bản thân và tham muốn, coi đó là thực tại và coi nó có tầm quan trọng. Tất cả các nghiệp quả thì chỉ để sử dụng mà thôi, không phải để dính mắc là tôi, bạn, thiện pháp, bất thiện pháp, việc thế gian và việc xuất thế gian. Chúng ta phải  tránh xa những điều cần thiết phải tránh, không tránh điều mà chúng ta muốn tránh.

Nếu chấp nhận ý niệm chúng tôi hiểu điều này, chúng tôi không hiểu điều kia thì chúng ta đang dính mắc vào trí thông minh của mình. Trí thông minh này chỉ để sử dụng mà thôi, không để bị dính mắc là thực tại. Chừng nào mà chúng ta còn dính mắc vào những sự hiểu biết này, nó trở thành ý niệm về bản ngã (atta)

Một cách tự nhiên, loài người được sử dụng để dính mắc vào một số ý niệm như: “chúng ta hữu ích”, “chúng ta vô dụng|, “Tôi là người tốt, tôi là người xấu”, “Ý tưởng này, ý tưởng kia – những quan điểm này cần được tâm trí tránh xa. Chúng ta cần sử dụng một số đại từ như tôi, bạn trong cuộc đối thoại. Trên thực tế, các đại từ Tôi, Bạn chỉ để sử dụng mà thôi. Như trường hợp sự trưởng thành của một cái cây, quá trình tăng trưởng diễn ra cho đến khi nó còn sống. Quá trình tăng trưởng này một hành động được thực hiện một cách tự nhiên. Cũng như thế, con người và các loài vật sẽ trưởng thành khi đến lúc trưởng thành. Có vài hành động được thực hiện một cách tự nhiên hoặc có chủ ý. Tất cả các hành động đó không phải để chối bỏ cũng không để dính mắc. Thay vì thế, cần thiết phải từ bỏ ý niệm sai lầm coi Tôi, Bạn, chúng sinh, ai đó, người ta, các loài động vật, các chúng sinh có sinh mạng, các chúng sinh không có sinh mạng, đàn ông, đàn bà là thực tại.

Cần thiết làm các thiện pháp nhưng đồng thời, chúng ta cần từ bỏ hành động của việc làm các thiện pháp (nghĩa là các hành động thiện chỉ làm mà thôi, không chú trọng). Nếu không, làm các thiện pháp sẽ là làm với sự dính mắc. Chúng ta có thể bố thí, dana, nhưng nếu chúng ta không thể từ bỏ sự dính mắc vào hành động của việc làm đó, chúng ta sẽ không thể hành thiền theo cách đúng đắn.

Thực hiện việc bố thí là cần thiết. Mặt khác, chúng ta cần hành thiền, là việc làm siêu việt hơn việc bố thí. Để có thể hành thiền mà chúng ta không thể, chúng ta cần từ bỏ việc bố thí và cố gắng đạt được tuệ minh sát. Chúng ta sẽ đạt được tuệ minh sát bằng việc tạo phước vipassana. Có thể thực hiện bố thí thông qua tuệ minh sát. Làm việc bố thí thông qua tuệ minh sát hoàn hảo hơn việc bố thí thông thường nhiều. Chỉ khi đó, chúng ta không chỉ đạt được phước bố thí mà còn cả tuệ minh sát.

Cần thiết từ bỏ việc làm cái cần làm để có thể làm cái chúng ta không thể làm. Nếu chúng ta không thể từ bỏ việc làm cái có thể làm, chúng ta sẽ phải làm cái có thể làm. Đó là lý do tại sao, sẽ không hoàn hảo trong việc tạo các nhân thiện.

Liên quan đến việc làm các thiện pháp, chúng ta phải nỗ lực cao nhất để từ bỏ mọi tài sản cho đến khi không còn gì để từ bỏ. Chúng ta không thể từ bỏ vì chúng ta có sự dính mắc mạnh mẽ vào những tài sản đó. Bản chất con người, chúng ta có thể từ bỏ của cải và tiền bạc với cái hiểu rằng chúng ta sẽ kiếm được rất nhiều tiền cho tới khi chết. Thay vì thế, chúng ta không dám từ bỏ cuộc sống của mình. Chúng ta có khả năng sẽ mất cuộc sống của mình nếu như có suy nghĩ như vậy.

Liên quan đến việc giữ giới, chúng ta cần giữ giới bằng việc xả ly cuộc sống của mình nếu cần thiết, vì thế, chúng ta có cơ hội giữ giới một cách hoàn toàn. Trong hành thiền, chúng ta cần hành thiền chăm chỉ và nghiêm túc. Nếu không, chúng ta sẽ trì hoãn và kết quả là, sẽ không có cơ hội hành thiền vì chần chừ.

Trong việc bố thí, dana, không dễ có ý định cúng dường. Rồi khi có ý định cúng dường, vẫn khó mà có thể thực hành bố thí vì chúng ta vẫn còn bận rộn với những việc thế gian.

Bản thân tôi đã có ý định đấy nhưng kế hoạch không thể đi đến hành động. Rồi tôi nhận ra khó mà bố thí được. Chừng nào việc giữ giới có liên quan, tôi thấy rằng có nhiều thứ để phá giới khi mà cố giữ giới. Khó mà giữ giới khi bản thân cố gắng làm điều đó. Chúng ta chỉ có thể giúp đỡ người khác khi chúng ta có thể vượt qua được những khó khăn. Có 2 loại giữ giới: (1) Giữ giới một cách hời hợt và (2) giữ giới một cách nghiêm túc. Giữ giới một cách mê tín là không đủ.

Quan trọng là phải giữ giới khi phải đối mặt với những trường hợp dễ bị phá giới. Cần phải đặt giá trị vào việc giữ giới thì chúng ta mới có được phước báu của việc giữ giới. Nếu không có được phước báu của việc giữ giới, chúng ta sẽ không hiểu và kinh nghiệm được lợi ích của việc giữ giới. Chúng ta sẽ không bao giờ kinh nghiệm và hiểu được lợi ích của việc bố thí (dân) nếu không thực hiện sự bố thí.

Người ta chỉ hiểu được giá trị của tài sản, tiền bạc, địa vị và giáo dục. Ví dụ, ai đó có thể kiếm được khoản tiền nào đó nếu họ có một bằng cấp nào đó, người ta chỉ hiểu được giá trị của khoản tiền đó. Chúng ta sẽ không hiểu được giá trị của bố thí thực sự, trừ khi chúng ta bố thí với mục đích xả bỏ sự ích kỷ.

Tham muốn của cải là bởi không có khả năng từ bỏ. Không thể sử dụng của cải cho mục đích xả bỏ, chúng ta sẽ sử dụng chúng với sự hiểu biết sai lầm với sự dính mắc. Người ta không có mục tiêu rõ ràng là họ sẽ làm cái gì khi họ giàu. Họ muốn giàu chỉ bởi người ta cho rằng giàu là tốt. Trên thực tế, người ta không có khả năng kiếm tiền vì lợi ích của tất cả.

Chúng ta chỉ có được sự hiểu biết này: Chúng ta có thể kinh doanh chỉ khi chúng ta được giáo dục. Chúng ta không thể không làm kinh doanh bởi vì chúng ta không thể từ bỏ việc đó. Đó là lý do tại sao chúng ta làm không có sự kết thúc các việc thế gian như là làm kinh doanh, tìm kiếm sự thành công. Kết quả là sẽ đau khổ vì không có khả năng từ bỏ những việc thế gian đó. Người ta chỉ hiểu rằng chúng ta phải làm kinh doanh, chúng ta phải tìm kiếm sự thành công. Trên thực tế, có thể sống mà không có các việc thế gian bởi vì chúng không phải là hạnh phúc hay của cải thực sự.

Mọi người đều có phiền não trong tâm (kilesa). Điều quan trọng nhất là cố gắng thoát khỏi phiền não. Tự do khỏi phiền não là hạnh phúc thực sự. Không phải là vấn đề liệu chúng ta học bao nhiêu, chúng ta giàu thế nào bởi vì chúng là hạnh phúc thế gian, không phải hạnh phúc thực sự. Hiểu về hạnh phúc thực sự và trí tuệ thực sự thì quan trọng hơn. Sẽ tốt hơn nếu đạt được cả hạnh phúc thế gian và hạnh phúc xuất thế gian. Thế nhưng, khó mà đạt được cả hai. Dù cho không đạt được hạnh phúc thế gian thì chúng ta nên cố đạt được hạnh phúc xuất thế gian. Đức Phật đã đạt được cả hạnh phúc thế gian và hạnh phúc xuất thế gian. Đức Phật hoàn hảo đến mức hoàn toàn tự do khỏi phiền não bao gồm các thói quen và tính cách cố hữu.

Khi hành thiền, tốt hơn cả là chúng ta hành cả thiền định samadha và thiền vipassana. Sẽ không hoàn hảo nếu chúng ta dừng lại ở thiền định samadha. Cần thiết phải đạt đến điểm mấu chốt trong thực hành thiền. Nếu ngần ngừ thiền thì sẽ thấy khó. Nếu chúng ta không có can đảm trong việc làm các thiện pháp thì sẽ đối mặt với rất nhiều vấn đề.

Người ta có đủ can đảm để kiếm tiền nhưng không đủ can đảm để bố thí. Họ đủ can đảm để làm bất cứ cái gì họ muốn làm hay muốn nói nhưng không đủ dũng cảm để sự dụng hành động của thân và khẩu để đạt được phước báu của việc giữ giới. Chúng ta vấn đủ can đảm sử dụng cái tâm để nghĩ bất cứ cái gì chúng ta muốn nghĩ và lo lắng bất cứ điều gì chúng ta muốn lo. Thực sự là tất cả những hoạt động của tâm mà chúng ta dám làm thì đều mang lại đau khổ.

Nếu chúng ta không thể từ bỏ ý niệm hoài nghi thì sẽ có sự hoài nghi trong sự hành thiền. Tôi đã từng có loại hoài nghi như thế.

Đầu tiên tôi không hiểu về Phật và Pháp vì không có sự hứng thú nhưng tôi cũng không có sự hoài nghi nào về Phật và Pháp. Chỉ khi hành thiền thì tôi bắt đầu hoài nghi về bản thân, về con người, về pháp, về Mogok Sayadaw và về Đức Phật. Trên thực tế, chẳng có gì phải hoài nghi. Nếu chúng ta không thể từ bỏ ý định hoài nghi, chúng ta sẽ khổ. Cũng như vậy, chúng ta tạo nhân và sẽ nhận kết quả với sức mạnh tương ứng.

Chúng ta phải cố gắng từ bỏ hoạt động hoài nghi của tâm. Để làm được điều đó, cần phải bố thí, trì giới, hành thiền một cách dũng cảm, khác biệt và hoàn hảo. Thậm chí, nếu chúng ta từ bỏ được sự hoài nghi về người thầy dạy thiền của mình, chúng ta vẫn có sự hoài nghi liên quan đến sự thực hành như: “Tôi có đủ ba la mật để hành thiền không?””chúng ta có thể hành thiền thành công được không?””Có đáng để chúng ta hành thiền không?”. Theo thói quen, chúng ta sử dụng các hoạt động tâm trí như thế để hoài nghi về bản thân. Nói cách khác, chúng ta đang sử dụng tâm một cách sai lầm. Trên thực tế, cố gắng từ bỏ sự sử dụng sai lầm các hoạt động tâm trí. Nếu không chúng ta sẽ hoài nghi về sự hành thiền.

Chúng ta phải hành thiền với niềm tin vào người thầy. Nói cách khác, chúng ta không hành thiền theo cách đại diện cho chính bản thân mình. Chúng ta phải từ bỏ ý niệm về sự đại diện cho bản thân. Theo cách này, chúng ta có thể hành thiền theo cách của vị thầy làm, không phải theo cách của người đệ tử. Chừng nào chúng ta còn hoài nghi về sự hành thiền, chúng ta không thể tiếp tục hành thiền. Những hoài nghi này là các triền cái hay là những sự xáo trộn đáng sợ trong hành thiền. Những sự phiền toái bên trong còn nguy hiểm hơn những sự xáo trộn bên ngoài như là bất cứ ai, bất cứ cái gì, chúng ta vẫn có thể làm những điều chúng ta muốn làm mà không muốn liên quan đến những xáo trộn bên ngoài. Nhưng những sự phiền toái bên trong như hoài nghi và suy nghĩ thì quan trọng hơn là bên ngoài, chúng ta phải tự mình giải phóng khỏi chúng.

Để từ bỏ những hành động sai lầm, cần thiết phải làm các việc pháp dưới đây không giới hạn. Chúng ta cần thực hành để có được suy nghĩ thiện hay là sự quán chiếu tâm với sự hiểu biết về vô thường, khổ, vô ngã; “ngũ uẩn của các hiện tượng thân và tâm”; “danh và sắc”. Nếu không, theo thói quen, chúng ta sẽ sử dụng cái tâm theo cách sai lầm và nghĩ “mình sai à?”, “họ sai à?”; “cái gì diễn ra tiếp theo?”. Lý do tại sao chúng ta sử dụng tâm một cách sai lầm là không thể từ bỏ làm như vậy và không thể làm việc tâm trí thiện cần làm. Đó là lý do tại sao chúng ta không đủ can đảm để bố thí và giữ giới.

Có nhiều loại Pháp được dạy bởi các vị thầy khác nhau. Tôi thường nghe lời dạy của Sayadaw Kyar Ni Kan vì tôi thích nghe. Tôi đã không muốn nghe lời dậy của Sayadaw Mogok vì lời dậy của Ngài quá cao để hiểu. Vì tôi không có đủ can đảm để làm các thiện pháp và không đủ khả năng để nghe Pháp, tôi chỉ có thể nghe lời dậy của Sayadaw Kyar Ni Kan vì dễ hiểu. Khi tôi nghe lời dậy của Ngài Mogok, tôi đã không thể chấp nhận một số điều. Tuy nhiên, tôi đã nghe lời dậy của ngài, dù cho khó đến mức nào. Nếu khi đó, tôi ngừng nghe Pháp của Ngài, tôi sẽ không thể có can đảm để nghe các Pháp cao.

Thiếu can đảm trong việc nghe Pháp khiến chúng ta không thể nghe Pháp này hay Pháp kia.

Khi đi học, tôi từng có nỗi ám ảnh về môn Toán. Đó là kết quả của việc không thực hành và không nhiều làm các bài tập toán. Nếu chúng ta giải quyết các vấn đề lặp đi lặp lại, chúng ta sẽ không có nỗi sợ Toán. Chúng ta sẽ có đủ can đảm để giải quyết các vấn đề liên quan Toán học. “Chúng ta càng né tránh nỗi sợ, chúng ta sẽ càng phải đối mặt với nỗi sợ. Nếu không có lựa chọn nào khác, thì hãy lựa chọn và đối mặt với nó”.

Tôi vẫn nhớ khi tôi học tiếng Anh là môn chính ở trường Đại học, chúng tôi phải chọn hoặc Pali hoặc Lịch sử là môn phụ, thỉnh thoảng tôi chọn Pali mà không vì một lý do nào cả. Môn này là về lời dậy của Đức Phật. Vì tôi không có hứng thú với Pháp và không có đức tin sâu sắc nơi Đức Phật nên tôi gặp nhiều khó khăn trong việc học những từ Pali. Tôi hầu như đã thi trượt trong năm đó. Vì thế năm sau tôi chọn môn Lịch sử làm môn phụ, thay cho môn Pali. Chúng ta có thể né tránh nỗi sợ khi có sự thay thế.

Khi tôi nghe Pháp, tôi phải đối mặt với nhiều từ Pali liên quan đến Thập nhị nhân duyên (Paticca Samuppada) dù cho tôi không muốn đối mặt. Tôi đã không chỉ nghe Pháp đơn thuần, tôi nghe qua sự thực hành của mình. Vì thế tôi nhận ra giá trị của tiếng Pali và không còn sợ nghe Pali như trước kia nữa. Tương tự như thế, sẽ là vấn đề lớn cho những ai ngần ngại làm các thiện pháp vì họ không bao giờ cố làm các thiện pháp.

Những ai nhàn rỗi, chỉ ăn và ngủ không dám từ bỏ hành động ăn không ngồi rồi. Vì thế họ không đủ can đảm để bố thí, trì giới và hành thiền. Họ sẽ cảm thấy là tổn thất lớn cho họ nếu họ phải từ bỏ cuộc sống và tài sản của họ. Họ không có can đảm để giữ giới và từ bỏ việc họ muốn làm.

Khi hành thiền, theo sự hướng dẫn của Sayadaw Thee In Gu, có các khóa ngắn hạn và dài hạn. Đôi khi chúng tôi chỉ cần thực hành 15 đến 30 phút. Đôi khi chúng tôi phải hành liên tục 24 giờ. Cả sự thực hành ngắn hạn và dài hạn đều cần thiết, tùy thuộc vào tình huống. Vì chúng ta có các thói quen khác nhau, tính cách và sự phiền não mạnh (kilesa) khác nhau, chúng ta phải hành thiền các thời ngắn và dài khác nhau, tùy theo sự cần thiết. Cũng cần thiết hành thiền trong các hoạt động đời sống hàng ngày và trong các tư thế khác nhau, đi-nói chuyện-ăn-làm việc-nằm-ngồi. Nếu chúng ta chỉ hành ngắn hạn, chúng ta sẽ sợ hành thiền trong thời gian dài. Nếu không đủ can đảm, chúng ta không thể làm các thiện pháp một cách hoàn hảo.

Có rất nhiều phương pháp hành thiền. Chúng ta có thể thực hành ở bất cứ đâu, dù là ở nhà hay ở trường thiền. Khi hành thiền ở trường thiền, có khóa 5 ngày, 7 ngày, 10 ngày, 1 tháng, 3 tháng. Chúng tan cần phải có khả năng thực hành bất cứ loại nào trong từng tình huống cụ thể. Cần có can đảm trong việc làm bất cứ loại thiện Pháp nào. Nếu thực sự làm, chúng ta sẽ có đủ can đảm để làm. Có can đảm để làm cho tham, sân, si giảm đi, thoát khỏi phiền não và xuất hiện trí tuệ.

Tôi đã dành gần 20 năm cho việc học tập (từ khi KG cho đến khi tốt nghiệp), tôi có thể học đến cùng và vì vậy, có niềm tin ở việc học hành. Tôi đã có rắc rồi sau khi đỗ kỳ thi lớp 10. Bố mẹ tôi muốn tôi ra nước ngoài và làm việc tại đó vì ở Myanmar khó làm ăn. Tôi đã không thể chấp nhận thực tế là tôi phải từ bỏ cái tôi cho là giá trị để kiếm tiền. Từ bỏ cơ hội trở thành một người giàu có, tôi cố gắng để có được một tấm bằng tiếng Anh thông thường. Mặc dù tôi không hài lòng về bằng cấp mà tôi đã đạt được, tôi tin rằng tôi có thể học bất cứ thứ gì dù khó đến đâu.

Khi làm kinh doanh, tôi đã có thể kiếm tiền trong điều kiện khó khăn. Vì tôi là con trai cả trong ba người con, tôi không thể lười biếng. Tôi đã quản lý một phức hợp nhiều việc kinh doanh dù là tôi còn ngần ngại làm kinh doanh. Sau đó thì tôi cũng có khả năng làm kinh doanh đến một mức độ nào đó, tôi không còn sợ kinh doanh nữa.

Liên quan đến làm các thiện pháp, cần phải làm bất cứ thiện pháp nào, không giới hạn, một cách hoàn hảo để có can đảm và thoát khỏi sự sợ hãi khi làm thiện pháp.

Nếu chúng ta có thể bố thí, chúng ta sẽ không sợ bố thí nhưng chúng ta vẫn sợ giữ giới. Nếu chúng ta giữ giới, chúng ta vẫn sợ nghe Pháp vì chúng ta quen nghe những chuyện tầm phào. Thậm chí nếu chúng ta nghe Pháp, chúng ta vẫn e ngại hành thiền nếu như chúng ta không cố gắng.

Cố gắng để có thể hành thiền ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, với bất cứ cảm xúc nào, trong bất kỳ tình huống nào, không quan trọng là bao lâu.

Cố gắng để có thể làm thiện pháp bằng sự hoàn toàn dũng cảm để mà từ bỏ, hy sinh, dù là bao nhiêu đi nữa.

Khi bắt đầu hành thiền, tôi rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan, “liệu có nên hành thiền ở trường thiền hay không” bởi vì khi đó, tôi không có đủ can đảm để hành thiền. Nếu như chúng ta có thể hành thiền với khả năng cao nhất, chúng ta sẽ không rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan như vậy. Nếu như chúng ta nhận ra giá trị vô giá của việc hành thiền bằng sự thực hành thực sự, ý niệm về việc “có nên hành thiền hay không” sẽ không bao giờ xuất hiện.

Là một nhà sư, tôi phải đi khất thực và dạy Pháp, cả hai là những công việc ích lợi mà tôi làm hàng ngày. Nếu mà phải chọn một trong hai, tôi không cần phải nghĩ sẽ chọn cái gì vì tôi nhận ra cái gì thì giá trị và quan trọng hơn. Cái thế tiến thoái lưỡng nan hay khó quyết định như vậy đã được loại bỏ để mà có thể đạt đến điểm mấu chốt trong sự hành thiền.

Đôi khi tôi thấy không khỏe để hành thiền. Nếu mà có tình huống phải cân nhắc là nên uống thuốc hay hành thiền thì tôi sẽ chọn hành thiền (mà không uống thuốc), không cần bận tâm đến tình huống.

Tôi không ngại dạy Pháp cho những người bệnh và người sắp chết trong mọi tình huống. Ai đó có thể nghĩ rằng không ích lợi dạy Pháp cho những người sắp chết. Tôi có thể vượt qua và giải quyết những vấn đề như thế nhiều lần và nó không còn là vấn đề cho tôi. Thậm chí đối mặt với tình huống đe dọa mạng sống, tôi vẫn có thể quyết định thành công việc tiếp tục hành thiền mà không nghĩ cuộc sống là quan trọng. “Có khả năng từ bỏ cuộc sống, tôi không còn sợ mất đi cuộc sống. Chúng ta không thể từ bỏ ý niệm sợ chết, chúng ta sẽ sợ chết”. Vì chúng ta nghĩ ngợi đến sự an toàn của cuộc sống, sự mất mát tài sản, chúng ta không dám từ bỏ cuộc sống và tài sản.

Mặc dù tôi mất một số thứ khi truyền bá Giáo Pháp nhưng mà đó không phải là vấn đề với tôi vì tôi có thế từ bỏ sự mất mát. Nhận ra điều đó thật ích lợi để mà sử dụng tài sản với mục đích từ bỏ để tăng phước báu, tôi không cần phải nghĩ ngợi về việc mất mát.

Nếu chúng ta quy y Pháp, Pháp sẽ bảo vệ chúng ta. Khi làm thiện Pháp mà làm với sự giới hạn thì không đủ. Chúng ta phải làm các thiện Pháp một cách không giới hạn thì đạt được đến điểm mấu chốt để mà không sợ làm thiện Pháp. Chúng ta sợ làm các thiện Pháp không giới hạn vì chúng ta không cố gắng làm như vậy. Nếu chúng ta thực sự làm, chúng ta sẽ biết giá trị của việc đó và không sợ nữa.

Nếu chúng ta làm thiện Pháp lớn, chúng ta sẽ nhận được kết quả lớn, với sức mạnh tương ứng. Không cần bận tâm là khó từ bỏ nó hay không. Quan trọng là cần cố gắng từ bỏ. Chỉ là nhân và quả. Nếu chúng ta gieo nhân, quả chắc chắn sẽ xuất hiện.

Có rất nhiều việc ích lợi cần làm. Hành thiền là việc khó nhất và cao nhất. Chúng ta càng sợ hành thiền, chúng ta càng cần hành thiền. Chúng ta cần giải quyết vấn đề như thế trong các vấn đề khác. Nếu mà tôi có thể tự giải quyết vấn đề của mình thì cũng có thể giúp người khác. Cũng như thế, nếu bản thân tôi sợ hành thiền, tôi sẽ không khuyến khích người khác và sẽ không có ý tưởng xây dựng trung tâm thiền. Ngày nay, có rất nhiều vấn đề phức tạp và những căn bệnh nghiêm trọng. Cần phải làm nhiều thiện pháp để giải quyết những vấn đề như vậy. Vì vậy, tôi quyết định thành lập trung tâm thiền để mà có nhiều phước báu hành thiền (bhavana) hơn.

Chúng ta có rất nhiều ý nghĩ, lời nói, việc làm bất thiện, vì chúng ta không dám từ bỏ bất thiện pháp, theo thói quen, chúng ta làm các bất thiện pháp. Kết quả là chúng ta không thể làm bất cứ thiện pháp nào và chúng ta sợ làm điều đó.

Hành thiền là cố gắng thoát khỏi bất kỳ nỗi sợ nào của việc tránh xa các hành động bất thiện về thân, khẩu, ý. Nói cách khác, hành thiền là để cố gắng có can đảm trong việc làm các thiện pháp về thân, khẩu, ý (Bố thí –  Trì giới  – Hành thiền, Dana, sila, Bhavana). Cần thiết phải làm điều chúng ta không dám làm cho đến khi không còn nỗi sợ nào khác.

Bản thân tôi phải đối mặt với nhiều vấn đề, sợ không hiểu Pháp. Nhiều thiền sinh cũng gặp những vấn đề như thế. Thực sự là chúng ta cần phải can đảm trong việc làm các thiện pháp mà không cần nghĩ đến là chúng ta có hiểu Pháp hay không. Chúng ta cần phải cố gắng làm cái cần làm. Không từ bỏ cái chúng ta muốn làm do sự thích thú, chúng ta sẽ không thể làm những việc cần thiết phải làm.

Cần thiết không làm các bất thiện pháp và không nghĩ bất thiện. Nhưng nếu chỉ tránh không làm các bất thiện pháp thì không đủ. Quan trọng nhất là phải cố gắng để mà thoát khỏi bất cứ nỗi sợ nào diễn ra trong tâm.

Chúng ta cần phải làm các thiện pháp như bố thí, trì giới, nghe Pháp và hành thiền. Nếu chỉ đơn thuần làm các thiện pháp như trên thì không đủ. Chúng ta cần phải cố gắng làm cho đến khi nào không có bất cứ nỗi sợ nào nữa. “Phương pháp hành thiền, diễn ra thế này hay thế kia, hành thiền bao lâu” không quan trọng. Điều quan trọng là cố gắng thoát khỏi sự ngần ngại và nỗi sợ trong việc làm các thiện pháp. Càng làm, chúng ta sẽ càng có thêm can đảm.

Khi bắt đầu hành thiền, tôi đã không có sự can đảm vì không quen làm như vậy. Đã có nhiều sự hoài nghi trong việc hành thiền. “Điều gì sẽ diễn ra khi hành thiền?”

Liên quan đến việc bố thí, dana, tôi chỉ hiểu là của cải được gom góp, giữ gìn và dính mắc. Chúng ta vẫn hoài nghi liên quan đến sự bố thí, cúng dường. Cần phải làm các thiện pháp không giới hạn và liên tục để thoát khỏi sự ngần ngại, hoài nghi và sợ hãi liên quan đến việc làm thiện pháp.

Nếu chúng ta giàu có, chúng ta dựa vào sự giàu có. Nếu chúng ta có giáo dục, chúng ta dựa vào giáo dục. Nếu chúng ta có những phẩm chất nào đó, chúng ta dựa vào những phẩm chất đó. Thông thường, chúng ta dừng lại ở những nghiệp quả đó. Những nghiệp quả như vậy là để sử dụng và từ bỏ. Cố gắng để có thể sửa chữa ý niệm về việc “chú trọng vào khả năng và sự tham muốn của chúng ta”. Nếu chúng ta không dám sửa chữa những sai lầm đó, theo thói quen, chúng ta lại phạm phải. Nếu chúng ta không dám tránh xa bất thiện pháp, chúng ta sẽ phải làm các bất thiện pháp.

Theo thói quen, chúng ta chú ý vào các sự thật ngụy tạo, cái gì đó, ai đó, nơi chốn, thời gian (quá khứ, hiện tại, tương lai). Chúng ta phải cố gắng để từ bỏ sự chú ý (dính mắc) vào các sự thật ngụy tạo. Chúng ta đã quen với việc dính mắc vào các sự thật ngụy tạo (này hay kia). Ví du, nếu chúng ta bị bệnh, chúng ta không thể không uống thuốc hay đi bác sỹ. “Quy y Pháp” là cố gắng từ bỏ ý niệm phụ thuộc vào các sự thật ngụy tạo, coi chúng là thực và có tầm quan trọng. Nếu chúng ta từ bỏ điều đó, chúng ta sẽ không còn sự dính mắc vào bất cứ thứ gì. Chúng ta sẽ không có những ý tưởng như thế này: “chúng ta phải làm cái này, chúng ta phải làm cái kia, chúng ta phải nói như thế này, chúng ta phải nói như thế kia, chúng ta phải khỏe mạnh, giàu có và có giáo dục”. Cố gắng từ bỏ bất cứ những hành động thân, khẩu, ý bất thiện nào. Cần thiết phải có can đảm để làm các thiện pháp và tránh xa các bất thiện pháp.

Tôi thành lập trung tâm thiền để mà có thể làm bất cứ hành động thân, khẩu, ý thiện nào. Vì thế, tôi có thể làm tất cả mọi thiện pháp và tôi cũng có thể giúp đỡ người khác làm như vậy. Tương tự như thế, tôi từ bỏ làm các bất thiện pháp, tôi cũng giúp những người khác làm như vậy.

Chúng ta có thể hành thiền chỉ khi ở trường thiền. Không dễ hành thiền ở nhà. Không dễ để từ bỏ cái chúng ta muốn làm và cái chúng ta có thể làm. Nhận ra những thực tế đó, tôi tập trung vào giải quyết những vấn đề đó.

“Tránh xa việc làm các bất thiện pháp” có nghĩa rằng cố gắng chống lại tham, sân, si. “Làm các thiện pháp” cũng là cố gắng chống lại các bất thiện pháp.

“Đối mặt với quả bất thiện” là do không cố gắng chống lại tham muốn làm các bất thiện pháp. Loại bỏ nguyên nhân gốc của những vấn đề và sự phiền phức đó càng nhiều, quả bất thiện càng ít.

Không cố gắng làm cái chúng ta có thể làm và cái chúng ta muốn làm bởi sự thích thú, thay vì thế, cố gắng làm những việc cần làm.

Tôi cố gắng giải quyết vấn đề hiểu Pháp. Cả Phật tử và không phải Phật tử đều chỉ hiểu một cách thiển cận về Phật, Pháp, Tăng. Tôi cố gắng giải quyết vấn đề đó bằng cách quy y Pháp. Cố gắng sẵn sàng làm bất cứ thiện pháp nào vào bất cứ lúc nào.

Tôi sử dụng tài sản của tôi vì lợi ích của tất cả. Tôi không cần nghĩ liệu sẽ dùng những tài sản đó cho tôi hay cho những người khác.

Hoài nghi về việc “tôi làm đúng hay làm sai” là bởi vì không thể từ bỏ làm như thế, không thể từ bỏ hoài nghi về mình và những người khác. Nếu chúng ta có thể từ bỏ những ý tưởng đó, không còn ai để dính mắc, để chỉ trích hay ghét bỏ.

 

 

THOÁT RA KHỎI SỰ HIỂU BIẾT SAI LẦM (Escape from Misunderstanding)

Tất cả các Sự thật Ngụy tạo là không thực và Sự thật Gốc là thực

Một cách tự nhiên, tất cả chúng ta chỉ chú ý đến các Sự thật Ngụy tạo, như là: thân và tâm của chúng ta, thời gian, nơi chốn, bầu trời và vũ trụ…bởi vì thân và tâm của chúng ta bị kiểm soát bởi sự hiểu biết sai lầm gốc. Vì sự hiểu biết sai lầm gốc đó mà sự chú ý ngụy tạo và dính mắc vào các Sự thật Ngụy tạo xuất hiện.

Sự chú ý ngụy tạo đó xuất hiện bởi sự hiểu biết sai lầm gốc coi những điều không phải thực tại là thực tại. Nếu không nhận ra nhân và quả thực sự, chúng ta sẽ nghĩ cuộc sống, sự chú ý ngụy tạo và sự dính mắc vào Sự thật Ngụy tạo là thực. Trên thực tế, tất cả các Sự thật Ngụy tạo thì không thực và sự hiểu biết sai lầm gốc mới là thực.

Chuyển sự chú ý đến Sự thật Gốc

Chúng ta cần chuyển sự chú ý từ các Sự thật Ngụy tạo sang Sự thật Gốc. Càng chú ý đến Sự thật Gốc thì càng ít hiểu biết sai lầm về các Sự thật Ngụy tạo. Theo cách này, thân và tâm của chúng ta, cuộc sống của chúng ta sẽ tự do hơn. Nếu bị kiểm soát bởi sự hiểu biết sai lầm, cuộc sống và năng lực của chúng ta không tự do. Chúng ta không thể hiểu một cách trực tiếp về Sự thật Gốc. Đó là lý do chúng ta cần sự giúp đỡ của Đức Phật và các đệ tử của Đức Phật mà hiểu biết tốt về Sự thật Gốc.

Về lời dạy này

Điều tôi dậy về Sự thật Gốc vượt lên trên các Sự thật Ngụy tạo.

Dù là tôi sử dụng thân và tâm, thời gian và nơi chốn là những Sự thật Ngụy tạo nhưng sự chú ý của tôi không nằm ở Sự thật  Ngụy tạo mà vượt lên trên Sự thật Ngụy tạo.

Tôi có thể giúp mọi người thay đổi sự chú ý vào các Sự thật Ngụy tạo sang Sự thật Gốc vì tôi có khả năng làm điều đó với sự giúp đỡ của Đức Phật và các đệ tử của Đức Phật có sự hiểu biết tốt về Sự thật Gốc.

Sự thật Gốc vượt lên trên các Sự thật Ngụy tạo, như là thời gian, nơi chốn và sự hiểu biết.

Đó là lý do chúng ta không cần nghĩ về bản thân mình. Mọi thứ chúng ta hiểu đều chỉ là Sự thật Ngụy tạo, cái tâm của chúng ta không thể có được sự kết nối trực tiếp với sự thật Gốc và Trí tuệ gốc.

Đầu tiên, cố gắng tập trung vào Sự thật Gốc bằng việc nghe lời giảng của tôi, thay vì chú ý đến các sự thật ngụy tạo (bằng việc nghe lời dạy của Sayadaw càng nhiều càng tốt, cố gắng từ bỏ mọi sự dính mắc vào cái chúng ta biết, cái chúng ta kinh nghiệm và sử dụng)

Chúng ta không thể tự mình chú ý đến Sự thật Gốc

Đó là lý do, sự giúp đỡ của Đức Phật và các đệ tử của ngài, những người đã giúp nhận ra Sự thật Gốc và trí tuệ Gốc là cần thiết.

Sử dụng cuộc sống, thời gian, nơi chốn thì không sai nhưng sử dụng với ý niệm cho đó là thực tại thì sai.

Chúng ta có thể sử dụng tất cả các Sự thật Ngụy tạo một cách đúng đắn bằng cách không quên Sự thật Gốc và chỉ chú ý đến Sự thật Gốc mà thôi.

Sự chú ý của chúng ta chỉ nên dành cho Sự thật Gốc thì sẽ có thể từ bỏ sự dính mắc vào các Sự thật Ngụy tạo.

Có hai loại Sự thật Gốc:

  1. Bản chất vô thường thực sự là thường hằng và mãi mãi
  2. Bản chất thường hằng thực sự là thường hằng và mãi mãi

Hai loại Sự thật Gốc:

Hai phẩm chất hiển nhiên của Bản chất Vô thường thực sự:

Bản chất Vô thường thực sự có hai phẩm chất hiển nhiên:

  1. Hành động gốc hay sự sáng tạo gốc, coi điều không phải thực tại là thực tại
  2. Cái biết hay sự hiểu biết gốc về Sự thật Gốc và Sự thật Ngụy tạo

Để chú ý đến Sự thật Gốc, chúng ta cần từ bỏ sự dính mắc vào các Sự thật Ngụy tạo. Điều tôi đang hướng dẫn đây là để theo con đường trung đạo duy nhất, không phải cách này hay cách khác. Theo cách này hay cách khác thì dễ mà theo con đường trung đạo thì khó vì con đường trung đạo vượt lên trên sự hiểu biết của chúng ta, thời gian, nơi chốn, cách thức hành thiền hay kinh nghiệm hành thiền. Nếu chúng ta chú ý đến Sự thật Ngụy tạo thì không bao giờ có thể bước chân vào con đường trung đạo. Cố gắng chuyển sự chú ý từ Sự thật Ngụy tạo sang Sự thật Gốc với sự giúp đỡ của tôi.

Tất cả các Sự thật Ngụy tạo chỉ để sử dụng, không phải để tập trung sự chú ý (không dính mắc và coi là thực tại)

Chúng ta có thể sử dụng các Sự thật Ngụy tạo nhưng không quên cái hành động gốc hay sự kiến tạo gốc, hiểu lầm cái không phải thực tại là thực tại và không quên sự hiểu biết gốc về Bản chất vô thường gốc.

Nếu chúng ta không chú ý đến Sự thật Gốc thì mọi hành động của chúng ta một cách tự nhiên sẽ bị kiểm soát bởi sự hiểu biết sai lầm.

Nếu như có sự hiểu biết sai lầm, sẽ có thói quen chú ý hay sự chú ý ngụy tạo đến các Sự thật Ngụy tạo. Vì sự chú ý ngụy tạo mà sẽ có sự dính mắc ngụy tạo (Ngụy tạo có nghĩa là không thực, giả tạo vì cái tâm tạo ra thói quen như thế trong quá khứ)

Kết quả là tâm và thân của chúng ta không được tự do.

 

Khó khăn chỉ ở thời điểm ban đầu

Tâm của chúng ta (chỉ có phẩm chất chú ý đến các Sự thật Ngụy tạo) có thể nhân đôi rất dễ dàng. (những cái tâm ngụy tạo có thể tăng cấp rất dễ dàng). Chúng ta có thể làm và biết những gì người khác làm và biết.

Theo cách như thế, không có cái tâm được tự do khỏi những dính mắc, cuộc sống và cái tâm của chúng ta cũng không đươc tự do. Chúng ta không thể đi và biết vượt lên trên các Sự thật Ngụy tạo.

Chúng ta chưa quen chuyển sự chú ý từ các Sự thật Ngụy tạo sang Sự thật Gốc. Vì thế, lúc đầu cảm thấy khó khăn.

Con đường trung đạo duy nhất khó thực hành hơn so với cách truyền thống. Nhưng khó khăn sẽ chỉ ở lúc đầu khi chúng ta chưa quen với việc đó.

Chúng ta càng thực hành mà không có ý nghĩ rằng khó hay không, chất lượng của tâm càng cao và vì thế, càng gần hơn với Sự thật Gốc

 

Bản chất vô thường thực sự hay bản chất vô thường Gốc

Điều tôi nói đây không phải về bản chất vô thường mà chúng ta vẫn hiểu theo truyền thống. Mà là bản chất vô thường gốc, thường hằng và mãi mãi

(nghĩa là Bản chất vô thường gốc là thường hằng và mãi mãi, không bao giờ khác. Cái vô thường của cái gì đó hay ai đó như chúng ta vẫn hiểu theo truyền thống là không thực, không thường hằng và luôn thay đổi)

Bản chất vô thường Gốc là thường hằng, không đổi và vô thường về mặt bản chất.

 

Bản chất vô thường Gốc vượt lên trên các Sự thật Ngụy tạo như là cái gì đó, mọi thứ, ai đó, mọi người, thời gian, nơi chốn…

Mọi nhà khoa học không thể hiểu Bản chất vô thường gốc vì họ chỉ tập trung sự chú ý vào cái gì đó và mọi thứ mà đó là những Sự thật Ngụy tạo

Tâm của họ không tự do và không thể hiểu vượt lên trên Sự thật Ngụy tạo và họ không biết gì về Sự thật Gốc.

Giờ đây chúng ta biết về các Sự thật Ngụy tạo nhưng biết không hoàn toàn đúng, không hoàn hảo cho đến khi chúng ta hiểu về Sự thật Gốc một cách trực tiếp

Bởi vì tất cả cái biết của chúng ta chỉ liên quan đến các Sự thật Ngụy tạo là những thứ bị kiểm soát bởi sự hiểu biết sai lầm, nghĩ các Sự thật Ngụy tạo là thực tại.

 Kẻ kiến tạo thực sự

Điều tôi đang nói là về bản chất thường hằng của các Sự thật Ngụy tạo. So sánh với Sự thật Gốc thì Sự thật Ngụy tạo không còn đúng nữa.

Những hiểu biết của tôi về các Sự thật Ngụy tạo đến từ sự hiểu biết về Sự thật Gốc.

Trên thực tế, không có đấng sáng tạo hay vật gì được sáng tạo. Mà Bản chất vô thường gốc là kẻ kiến tạo thực sự.

Vì không biết về sự sáng tạo gốc của bản chất vô thường mà chúng ta nghĩ Chúa hay bản thân chúng ta hay hành động của chúng ta là kẻ kiến tạo.

Bất cứ hành động, kinh nghiệm hay cái biết gì, tốt hay xấu chỉ là làm, kinh nghiệm hay biết mà thôi, không phải để dính mắc hay chối bỏ. Và chúng cũng không phải để cho đó là thực tại. Không ai được tán dương hay chê trách. Về mặt thực tại, mọi người chỉ để sử dụng mà thôi.

(nghĩa là sự thật vĩnh hằng về các Sự thật Ngụy tạo như cái gì đó, mọi thứ, ai đó, mọi người, bất cứ hành động, kinh nghiệm hay biết gì đều không phải để dính mắc với ý niệm đó là thực tại mà chỉ để sử dụng, kinh nghiệm và biết mà thôi)

 

Điều gì là quan trọng nhất?

Tôi không hướng dẫn làm cái gì, hay không làm cái gì, nói cái gì hay không nói cái gì. Mà chỉ hướng dẫn để chuyển sự chú ý từ các Sự thật Ngụy tạo sang Sự thật Gốc.

Làm cái gì hay không làm cái gì, nói cái gì hay không nói cái gì không còn quan trọng nữa.

 

Cái gì chúng ta nên làm và cái gì chúng ta không nên làm?

Làm sao chúng ta có thể phân biệt được tốt và xấu?

Nếu không có sự hiểu biết sai lầm thì Trí tuệ Gốc sẽ kiểm soát mọi hành động của chúng ta. Chỉ có trí tuệ gốc mới hiểu được về Sự thật Gốc và các Sự thật Ngụy tạo một cách đúng đắn.

Nếu Trí tuệ gốc kiểm soát tâm, thân và cuộc sống của chúng ta, chúng ta có thể phân biệt đúng, sai, cái gì nên làm, cái gì không nên làm, cái gì nên nói, cái gì không nên nói. Theo cách này, sẽ ít có lỗi trong hành động của chúng ta.

Nếu hiểu biết sai lầm kiểm soát hành động của chúng ta, chúng ta chỉ biết đến các Sự thật Ngụy tạo và chú ý đến Sự thật Ngụy tạo, như là “làm cái gì?”, “Làm thế nào?”, “Làm ở đâu?” Mỗi thứ và từng chi tiết đơn lẻ dường như quan trọng vì sự hiểu biết sai lầm đang kiểm soát cuộc sống của chúng ta.

Đó là lý do tại sao chúng ta cần thay đổi kẻ kiểm soát từ sự hiểu biết sai lầm sang Trí tuệ gốc.

Nói cách khác, chúng ta cần chuyển sự chú ý từ các Sự thật Ngụy tạo sang Sự thật Gốc bằng cách không quên về hành động vô minh gốc và cái biết gốc về bản chất vô thường gốc trong mọi lúc.

 

Không quên về phẩm chất gốc

“Chúng ta là ai?” “Chúng ta ở đâu?” “Chúng ta làm gì?” thì không quan trọng. Điều thực sự quan trọng là không quên về hành động vô minh gốc và cái biết gốc về bản chất vô thường gốc.

Chúng ta cần thay đổi lý thuyết liên quan đến cuộc sống của chúng ta, rằng chỉ để sử dụng mà thôi, không nghĩ là cuộc sống của tôi, cuộc sống của bạn, trẻ và già, đàn ông và đàn bà…với ý niệm là thực tại. Tất cả cuộc sống chỉ để sử dụng và kinh nghiệm mà thôi, không phải để dính mắc hay coi là thực tại.

Nếu chúng ta có thể sử dụng các Sự thật Ngụy tạo một cách đúng đắn (nghĩa là chúng ta chỉ sử dụng các Sự thật Ngụy tạo mà không dính mắc và không coi là thực tại), chúng ta sẽ nhận ra rằng “thậm chí cái chết cũng chỉ để sử dụng, để kinh nghiệm mà thôi, không phải để sợ nó hay muốn chết khi đối mặt với những khó khăn.

Đến lúc phải chết, tất cả chúng ta phải chết và chỉ khi đó mới chết. Càng biết về cuộc sống theo cách đúng, chúng ta càng sử dụng cuộc sống theo cách đúng đắn. Một cách truyền thống, chúng ta đang sử dụng cuộc sống theo cách sai lầm và vì thế, có rất nhiều vấn đề liên quan đến cuộc sống của chúng ta.

Thay vì chú ý đến thân và tâm của chúng ta, chỉ chú ý đến hành động vô minh gốc về bản chất vô thường gốc mà là thường hằng và vĩnh viễn.

Thay vì chú ý đến những gì chúng ta biết, chỉ chú ý đến cái biết gốc về bản chất vô thường gốc mà là thường hằng và vĩnh viễn.

Càng ít sự chú ý ngụy tạo vào các Sự thật Ngụy tạo, càng ít sự dính mắc ngụy tạo vào chúng. Theo cách này, sẽ không có sự hiểu biết sai lầm.

Nếu không có sự hiểu biết sai lầm, sẽ có Trí tuệ gốc trực tiếp biết về Sự thật Gốc và các Sự thật Ngụy tạo.

Thay đổi hành động, thời gian, nơi chốn thì không quan trọng. Chỉ thay đổi sự chú ý từ các Sự thật Ngụy tạo sang Sự thật Gốc mới quan trọng.

 

 

Về lời dạy, tâm và hành động của Sayadaw Ottamasara

Tâm của tôi có phẩm chất để sử dụng cuộc sống, hành động và làm các việc thiện theo cách đúng đắn, hành động của tôi chỉ là hành động mà thôi, thực hiện mà thôi, mà không có hiểu biết sai lầm và dính mắc. Không có ai, không có cái gì đang kiểm soát hành động của tôi, vì thế, hành động của tôi tự do và có sức mạnh.

Theo cách này, tôi có thể làm nhiều hơn nữa các việc thiện và giúp đỡ ngày càng nhiều người hơn. Nếu sự hiểu biết sai lầm đang kiểm soát cuộc sống của chúng ta, khả năng của chúng ta sẽ chỉ như những người khác. Hành động và sự hiểu biết của chúng ta không thể đi vượt lên trên giới hạn.

Lời dạy của tôi hơn là một lời dạy thông thường, không chỉ về mặt lý thuyết mà cả về mặt thực hành.

Cái tâm đủ phẩm chất để hiểu sự thật gốc

“Làm cái chúng ta phải làm và làm cái chúng ta có thể làm” nhưng không chú trọng vào hành động của mình, coi đó là thực tại.

Chỉ chú ý đến hành động gốc là hiểu lầm cái không phải thực tại là thực tại và cái biết gốc về bản chất vô thường gốc là thường hằng và vĩnh viễn.

Theo truyền thống, chúng ta chú ý đến các sự thật ngụy tạo, dính mắc vào chúng với ý niệm đó là thực tại và là quan trọng.

Thực hành chuyển sự chú ý từ các sự thật ngụy tạo sang sự thật gốc là cách tốt nhất để nâng cao chất lượng tâm. Càng chú ý đến sự thật gốc thì chất lượng tâm càng tăng.

Chỉ khi tâm có đủ phẩm chất để hiểu về sự thật gốc, tâm sẽ có sự liên kết trực tiếp đến sự thật gốc và trí tuệ gốc.

Để được như vậy, chúng ta cần rất nhiều sự can đảm để phá vỡ cái tâm truyền thống và cắt bỏ thói quen của tâm.

Nếu không có sự dính mắc vào các sự thật ngụy tạo thì chú ý đến sự thật ngụy tạo không phải là vấn đề. Nếu như có sự dính mắc, chú ý đến sự thật ngụy tạo sẽ làm cho sự dính mắc càng nhiều hơn, mạnh hơn.

Rất nhiều vấn đề trong cuộc sống xảy ra là bởi sự yểu đuối của tâm. Nếu tâm mạnh và có năng lực, vấn đề không còn là vấn đề, khó khăn không còn là khó khăn nữa.

Chúng ta có thể sử dụng các sự thật ngụy tạo – tâm, thân, thời gian, nơi chốn – và có thể giao tiếp với người khác nhưng chỉ nên dành sự chú ý cho hành động vô minh gốc và hiểu biết gốc về bản chất vô thường gốc là điều thường hằng và vĩnh viễn.

Hành động của chúng ta, hiểu biết của chúng ta, kinh nghiệm của chúng ta nên là hành động mà thôi, hiểu biết mà thôi, kinh nghiệm mà thôi, không dính mắc và không coi là thực tại.

Đúng và sai

“Sử dụng cuộc sống với phẩm chất của sự xả ly” là sử dụng cuộc sống theo cách đúng đắn.

“Sử dụng cuộc sống với sự dính mắc”, “làm với sự dính mắc”, “biết với sự dính mắc” là sai

“Sử dụng cuộc sống mà không dính mắc”, “làm mà không dính mắc”, “biết mà không dính mắc” là đúng

Chúng ta luôn sử dụng tâm và thân mình, nhưng luôn sử dụng với sự dính mắc với ý niệm về thực tại, vì vậy, sự hiểu biết sai lầm kiểm soát tâm và thân chúng ta.

Sự dính mắc của chúng ta đến từ sự dính mắc ngụy tạo và sự dính mắc ngụy tạo đến từ sự hiểu biết sai lầm hay trí tuệ ngụy tạo

Đó là lý do tại sao chuyển sự chú ý từ các sự thật ngụy tạo sang sự thật gốc là chuyển từ dính mắc sang không dính mắc, từ trí tuệ ngụy tạo sang trí tuệ gốc.

Hành thiền thực sự hay con đường trung đạo duy nhất

Hành thiền thực sự hay con đường trung đạo duy nhất thì hơn là một hành động, kinh nghiệm, thời gian hay nơi chốn. Đó là lý do tại sao “ sử dụng thời gian, nơi chốn, sự hành thiền và kinh nghiệm” thì không đủ để theo con đường trung đạo duy nhất. Chỉ làm các việc thiện cũng không đủ.

Quan trọng là không quên hành động vô minh gốc và cái biết gốc về bản chất vô thường gốc, vốn thường hằng và vĩnh viễn.

Ban đầu, sẽ chỉ là cái biết ngụy tạo và trí tuệ ngụy tạo. Giờ đây, sự hiểu biết về các sự thật qua lời dạy của tôi không phải là trí tuệ gốc mà chỉ là trí tuệ ngụy tạo.

Trí tuệ ngụy tạo liên tiếp sẽ dẫn đến con đường xuất hiện trí tuệ gốc. Chỉ có trí tuệ gốc mới có thể hiểu trực tiếp về sự thật gốc. Sử dụng trí tuệ ngụy tạo và sự thật ngụy tạo, chúng ta phải cố gắng để có được sự kết nối với sự thật gốc và trí tuệ gốc.

Vì các sự thật ngụy tạo thì luôn thay đổi, không hoàn hảo và vô thường, chúng chỉ để sử dụng mà thôi, mà không dính mắc và không coi là thực tại.

 Tại sao khó biết về sự thật gốc?

Nếu mà có sự dính mắc kiên cố và các sự thật ngụy tạo như tâm, thân, trí óc và sự hiểu biết, rất khó để chấp nhận sự thật gốc.

Đó là lý do tại sao chúng ta phải dành sự chú ý mạnh vào sự thật gốc nếu có sự dính mắc mạnh vào các sự thật ngụy tạo. Chúng ta phải chuyển sự chú ý từ các sự thật ngụy tạo sang sự thật gốc. Sự dính mắc kiên cố xuất hiện là bởi sự chú ý mạnh.

Ví dụ: chúng ta càng chú ý vào giáo dục thì càng dính mắc vào giáo dục. Càng chú ý vào cuộc sống thì càng dính mắc vào cuộc sống.

Con đường trung đạo là chỉ thực hành mà thôi. Không ích lợi nếu chỉ cố suy đoán – “có khó không?”, “có thể được không?”, “tại sao lại có thể được”…Bởi vì bất cứ thứ gì liên quan đến tâm của chúng ta thì chỉ để sử dụng mà thôi, chỉ biết mà thôi, chỉ để kinh nghiệm mà thôi, mà không dính mắc, xác nhận và nghĩ là thực tại hay cho có tầm quan trọng.

Con đường trung đạo duy nhất chỉ để theo và thực hành mà thôi.

Để có sự kết nối với sự thật gốc

Nếu chúng ta có thể thực hành thành công con đường trung đạo, chất lượng tâm sẽ càng tăng hơn. Và cuối cùng tâm của chúng ta sẽ có sự kết nối với sự thật gốc.

Chất lượng tâm là quan trọng để có được sự kết nối với sự thật gốc.

Càng chú ý đến thân và các yếu tố vật chất khác thì tham muốn càng mạnh. Tâm càng khát thì chất lượng tâm càng thấp.

Liệu có thể chú ý vào sự thật gốc hay không, chúng ta cần sử dụng các sự thật ngụy tạo. Vì chúng ta chú ý vào sự thật gốc, dính mắc vào các sự thật ngụy tạo sẽ giảm đi. Theo cách này, chúng ta có thể sử dụng các sự thật ngụy tạo và trí tuệ ngụy tạo theo cách đúng đắn.

(Có nghĩ là sự ưu tiên chính là không dính mắc vào các sự thật ngụy tạo với ý niệm về thực tại bằng cách không quên về các phẩm chất của Bản chất vô thường gốc. Chúng ta càng thực hành thì càng ít dính mắc vào các sự thật ngụy tạo, tâm càng tự do và sẽ có sự kết nối với sự thật gốc và trí tuệ gốc)

Hai loại trí tuệ gốc

Có hai loại trí tuệ gốc:

Bước đầu tiên của trí tuệ gốc chỉ hiểu về sự thật gốc là Bản chất vô thường gốc

Cố gắng đạt được bước đầu tiên của trí tuệ gốc và sau đó tiếp tục phát triển bước một đó, sẽ dẫn đến sự sinh khởi bước hai của trí tuệ gốc.

Bước hai của trí tuệ gốc hiểu về cả hai sự thật gốc: bản chất vô thường gốc và bản chất thường hằng gốc.

Chúng ta có thể sử dụng trí tuệ ngụy tạo nhưng không được thỏa mãn với điều đó. Nếu chúng ta có thể sử dụng trí tuệ ngụy tạo theo cách đúng đắn, tâm của chúng ta có được sự kết nối với cả sự thật gốc và trí tuệ gốc vốn là hoàn hảo.

Chỉ khi cái tâm có sự kết nối với sự thật gốc vốn hoàn hảo thì tâm của chúng ta cũng sẽ hoàn hảo.

Nếu tâm của chúng ta hoàn hảo, cuộc sống của chúng ta cũng sẽ hoàn hảo vì có sự kết nối với sự thật gốc vốn là hoàn hảo và thường hằng vĩnh viễn.

 

Càng chú ý vào cuộc sống,

Chất lượng tâm càng thấp

Càng chú ý vào thân và các vật chất khác

Tham muốn càng mạnh

Tâm càng thèm khát

Chất lượng tâm càng thấp

 

Điều tôi hướng dẫn là theo con đường trung đạo độc nhất, không phải cách này hay cách kia

Theo cách này hay cách kia thì dễ còn theo con đường trung đạo thì khó vì nó vượt lên trên sự hiểu biết của chúng ta, thời gian, nơi chốn, sự hành thiền và kinh nghiệm

SỨC MẠNH CỦA SỰ XẢ LY (Power of Abandonment)

  1. Làm việc thiện theo cách đúng đắn (Power of Abandonment)

Thường có những giới hạn và hạn chế khi làm việc thiện như: cái gì, khi nào, ở đâu, ai và thế nào

Trên thực tế, chỉ có con đường trung đạo khi làm việc thiện. Không chấp nhận ý nghĩ về việc cái gì đang diễn ra và coi đó là thực tại mà cũng không chấp nhận ý nghĩ là chẳng có gì cả và coi đó là thực tại. Không dính mắc vào việc làm việc thiện mà cũng không chối bỏ điều đó. Tức là không nên lấy bản thân làm trung tâm khi làm việc thiện hay làm với sự hiểu biết giới hạn mà cũng không nên tránh làm.

Mọi người có thói quen làm việc thiện với những hạn chế và sự ép buộc. Con đường trung đạo duy nhất (con đường thực sự làm các việc thiện) vượt lên trên những giới hạn và kiến thức. Để làm các việc thiện theo cách đúng đắn, cần thiết làm theo sự hướng dẫn xác thực của Phật, Pháp, Tăng

Mọi người có khả năng làm các việc với những hạn chế như: Khi ở Rome, hãy làm như người Rome.

Ví du: Mọi người có những khả năng hạn chế dưới đây:

(a)    Thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu

(b)   Làm các việc thiện với những giới hạn

(c)    Tránh xa làm các việc bất thiện với bản ngã

Nếu làm các việc thiện mà xoay quanh bản thân, không có sự hướng dẫn của Phật, Pháp, Tăng thì bạn sẽ không thể làm theo cách đúng đắn (chỉ làm mà thôi). Con đường trung đạo duy nhất (con đường làm việc thiện thực sự) không bám víu và cũng không chối bỏ. Không dính mắc và cũng không bác bỏ.

Cố gắng làm việc thiện theo cách đúng đắn (chỉ làm mà thôi) với sự giúp đỡ của Phật, Pháp, Tăng. Cố gắng làm việc thiện nhiều nhất có thể và bạn sẽ có khả năng làm nhiều như bạn đã từng làm. Nếu bạn không bao giờ thử, làm sao bạn có thể học làm điều đó?

Theo thói quen, chúng ta thường làm việc thiện với những hạn chế. Ví dụ, chúng ta làm việc thiện với ý niệm dính mắc hoặc coi việc thiện, việc bất thiện, người cúng dường, người nhận cúng dường, vật cúng dường là thực tại. Nói cách khác, chúng ta làm việc thiện với sự dính mắc vào những giới hạn.

 

  1. Làm thế nào để loại bỏ thói quen dính mắc

Chúng ta sẽ không thể làm việc thiện theo cách đúng đắn (chỉ làm mà thôi) chừng nào chúng ta còn dính mắc. Cố gắng từ bỏ thói quen dính mắc, bằng việc làm việc thiện theo cách đúng đắn (chỉ làm mà thôi). Cố gắng từ bỏ thói quen dính mắc vào kinh nghiệm tốt, kết quả tốt, với ý niệm xác nhận những kinh nghiệm và kết quả đó. Cố gắng thoát khỏi sự xoay quanh bản thân hay những kiến thức giới hạn khi làm việc thiện.

Một cách truyền thống, chúng ta làm việc thiện với sự dính mắc và xác nhận. Như là “tôi làm việc thiện”, “tôi làm việc bất thiện” với ý niệm coi “tôi, bạn, việc thiện, việc bất thiện, hành động, kinh nghiệm, thời gian, nơi chốn” có tầm quan trọng.

Cũng như người vận động viên cố gắng đánh bại đối thủ với ý niệm coi chiến thắng, thất bại, tranh tài là thực tại.

Cố gắng từ bỏ thói quen dính mắc qua khả năng làm việc thiện không giới hạn.

Nếu như không có sức mạnh trong việc làm việc thiện, làm sao chúng ta có khả năng làm việc thiện?

Chúng ta sẽ không thể từ bỏ thói quen dính mắc vào các sự thật ngụy tạo trừ phi chúng ta có sức mạnh của việc làm việc thiện.

 

  1. Cách thức để không tham (alobha), không sân (adosa), không si (amoha)

Dính mắc, xác nhận, chú ý vào các sự thật ngụy tạo thì vừa tham, vừa sân, vừa si.

Cố gắng chinh phục tham với vô tham (bằng lòng/hào phóng), sân với vô sân, si với vô si

Khả năng làm, suy nghĩ hay kiến tạo là những khả năng bình thường mà chúng ta có. Đó là những khả năng của tham, sân, si.

Cố gắng chuyển từ khả năng tham, sân, si sang vô tham, vô sân, vô si bằng cách sử dụng khả năng cao nhất của việc làm việc thiện: Bố thí (dana) – Trì giới (sila) – hành thiền (bhavana).

Làm việc thiện càng nhiều, kết quả là khả năng của tham, sân, si càng giảm;

sức mạnh tối cao của vô tham, vô sân, vô si càng lớn.

Theo thói quen, chúng ta chú ý vào các sự thật ngụy tạo, như là giàu hay không giàu, khỏe hay không khỏe, có giáo dục hay không, trẻ hay không, đàn ông hay đàn bà, làm cái gì hoặc không làm gì.

Thông thường, chúng ta nghĩ tiền của chúng ta sẽ bị dùng hết nếu như chúng ta cúng dường, mà không xem xét đến điều kiện của tâm. Trong khi cúng dường, chúng ta chú trọng vào việc “giàu hay không giàu”, “có dùng hết tiền không”

  1. Phá vỡ truyền thống

Bố thí, cúng dường (dana) thực sự phá vỡ thói quen của lòng tham – (chiếm giữ, vơ vào, dính mắc) liên tục tiếp diễn

Giữ giới cũng phá vỡ thói quen của tham, sân – (ví dụ làm điều gì với tham muốn)

Hành thiền (bhavana) phá vỡ những phiền não (kilesa) đang có mặt nơi tâm

Bằng việc hành thiền, chúng ta thách thức thói quen cá nhân của các phiền não quen thuộc – như là làm với tham muốn

Làm việc thiện như Đức Phật dạy là thực hành sự xả ly và nó không phải là sự nố lực vô ích. Điều đó có nghĩa là phá vỡ truyền thống và thói quen cá nhân. Nói cách khác, làm việc thiện là xả ly tham, sân, si.

Bằng việc thách thức và từ bỏ các thói quen cá nhân, sức mạnh xả ly của tham, sân, si sẽ lớn mạnh. Bằng việc thường xuyên từ bỏ bất cứ tham muốn nào, sức mạnh của sự xả ly sẽ lớn hơn và lớn hơn nữa.

(a)    Bố thí, cúng dường (dana) là phá vỡ thói quen của lối suy nghĩ thế gian

(b)   Giữ giới (sila) là thách thức những truyền thống thế gian như là làm với tham muốn (nghĩa là chúng ta đặc biệt chú trọng vào vấn đề sống và chết, phương tiện trợ giúp gia đình, các vấn đề xã hội, giáo dục, làm ăn, sự tự tin)

(c)    Hành thiền (bhavana) là một loại từ bỏ, thách thức phiền não (kilesa) – thói quen cá nhân của việc làm với tham muốn

Trong tâm của chúng ta có các quan điểm như “chúng ta phải học”, chúng ta phải cố gắng nói hùng hồn, chúng ta phải làm việc”…mà không có những vấn đề như: “chúng ta phải nỗ lực làm việc thiện”, “chúng ta phải cúng dường (dana), “chúng ta phải giữ giới (sila), “chúng ta phải hành thiền (bhavana)”

Khám phá sự thật (bố thí, trì giới, hành thiền) là đối diện với tham, sân, si thường xuyên theo miết các sự thật ngụy tạo hoặc các nhãn dán

Chúng ta làm việc thiện (bố thí, trì giới, tham thiền) càng nhiều

sức mạnh của vô tham, vô sân, vô si càng lớn.

Sức mạnh xả ly vô tham, vô sân, vô si đặc biệt liên quan đến tâm

Con người có thể chỉ hiểu rõ về các đối tượng rõ ràng và nghĩ khả năng của họ là thật (ví như khả năng của diễn viên có thể được thấy trên màn ảnh). Trên thực tế, các khả năng có thể được thấy chỉ là các khả năng ngụy tạo, không có thực

Chúng ta không hiểu được sức mạnh của sự xả ly (vô tham, vô sân, vô si). Như là, (1) sức mạnh xả ly đối với các sự thật ngụy tạo, tốt và xấu; (2) sức mạnh xả ly đối với những vấn đề thế gian. Đó là lý do tại sao chúng ta không dám từ bỏ các sự thật ngụy tạo.

Nếu như chúng ta dám từ bỏ, sức mạnh của sự xả ly sẽ trở nên lớn mạnh. Chỉ khi đó, sức mạnh của việc phá vỡ các truyền thống thế gian như là “làm ăn, học hành, cạnh tranh, trả thù”  trở nên lớn mạnh hơn.

 

  1. Giáo Pháp thực sự

Tôi chỉ dạy Pháp theo cách dạy thực sự, chứ không dạy theo cách truyền thống – phải dạy thế nào

Tôi dạy Giáo Pháp theo cách đúng đắn qua sức mạnh của việc làm việc thiện không giới hạn.

Chỉ khi bạn có đủ sức mạnh của việc làm việc thiện, bạn mới có thể hiểu được lời dạy của tôi. Nếu như bạn muốn hiểu, bạn phải làm việc thiện với khả năng cao nhất để có thể tạo ra nghiệp tối thượng.

Bạn sẽ không thể hiểu nếu như bạn dính mắc chặt chẽ vào các sự thật ngụy tạo, những truyền thống giới hạn như là “cái gì, khi nào, ở đâu, ai, thế nào…”

Chúng ta đã quen bị cuốn vào các sự thật ngụy tạo hay các nhãn của những thứ chúng ta ưa thích như là các tính cách ngụy tạo, mưu đồ, thời gian, nơi chốn và tình huống ngụy tạo. Bởi thế, chúng ta không thể nghe giáo Pháp thực sự vì chúng ta không thấy những sự ưa thích của mình ở trong đó. Nói cách khác, các sự thật ngụy tạo không có ở trong đó.

Tôi dạy Giáo Pháp theo cách đúng đắn, không dính mắc vào các sự thật ngụy tạo như “cái gì, ở đâu, khi nào, thế nào, ai, sự ưa thích, tính cách, mưu đồ”

“Nghe Giáo Pháp thực sự càng nhiều,

sự dính mắc vào các sự thật ngụy tạo càng ít”

  1. Mục tiêu của việc làm việc thiện

Cần thiết phải từ bỏ thói quen dính mắc của tâm vào thời gian, nơi chốn, kinh nghiệm, phương pháp, Pháp mà chúng ta đang nghe, thầy và thiền sinh, việc nghe và hành thiền.

Điều chúng ta thực sự phải làm khi làm việc thiện đó là tự do khỏi sự dính mắc. Có nghĩ là mục tiêu của việc làm việc thiện phải là tự do khỏi sự dính mắc.

Làm việc thiện (bố thí, trì giới, tham thiền) là một loại công việc không thông thường và vì thế, nó thách thức và phá vỡ truyền thống và các tập quán.

Chúng ta phải làm việc thiện theo cách đúng đắn. Không dính mắc cũng không chối bỏ. Chỉ làm mà thôi, chỉ kinh nghiệm mà thôi, chỉ áp dụng mà thôi. Chúng ta phải làm việc thiện theo cách đúng đắn để mà đạt đến điểm mấu chốt là không dính mắc mà cũng không xác nhận, chỉ làm mà thôi. Có nghĩa rằng chúng ta phải làm việc thiện để thực sự là việc thiện. Để trở thành bố thí thực sự, trì giới thực sự, hành thiền thực sự, trí tuệ thực sự (dana, sila, bhavana, panna) – để có thể làm việc thiện theo cách đúng đắn, chúng ta phải sử dụng sự bố thí ngụy tạo, trì giới ngụy tạo, hành thiền ngụy tạo, trí tuệ ngụy tạo

Chúng ta có thói quen làm việc thiện với mong muốn trở thành cái gì đó (như chúng ta chú trọng vào việc diễn ra cái gì đó hay không. Một số người làm việc thiện với mong muốn cắt bỏ luân hồi samsara thì coi quá trình cắt bỏ luân hồi là thực tại)

Thường thì chúng ta có những khả năng ngụy tạo. Ví dụ: (1) chúng ta có thể làm việc thiện bằng việc cố gắng che phủ lòng tham mà không từ bỏ nó. (2) chúng ta có khả năng rải tâm từ (metta) đến tất cả bằng việc che giấu sự sân hận mà tránh từ bỏ nó. (3) chúng ta cũng kiên nhẫn mà không từ bỏ sự sân hận

Cũng như thế với “khả năng hiểu Pháp”, có nghĩa là chúng ta có khả năng hiểu mà không thể từ bỏ vô minh một cách toàn diện. Tất cả những điều này chỉ là khả năng ngụy tạo.

Làm việc thiện phải, cố gắng để:

(1)   Làm việc thiện thực sự

(2)   Bố thí thực sự

(3)   Tâm từ thực sự

(4)   Hiểu biết thực sự

(5)   Xả ly thực sự

(6)   Không tham, không sân, không si thực sự

Chúng ta có thể từ bỏ cái gì đó với mục đích nào đó mà không có khả năng từ bỏ sự dính mắc của tâm. Đầu tiên, chúng ta cố gắng từ bỏ và rồi lại cố gắng dính mắc lại. Loại từ bỏ đó là cách từ bỏ theo truyền thống và thói quen mà không có khả năng từ bỏ sự dính mắc của tâm.

Theo thói quen, chúng ta giữ giới mà không có khả năng từ bỏ làm các việc thế gian. Chúng ta giữ giới cùng lúc với làm các việc thế gian

Cũng như thế với hành thiền. Chúng ta hành thiền cùng lúc với làm các việc thế gian. Đó là lý do tại sao không thể trở thành vipassana thực sự. Cũng như thế với việc giữ giới, sila, không thể trở thành giữ giới thực sự mà chỉ là giữ giới ngụy tạo.

Vì không thực sự nên không an toàn và chắc chắn. Đó là lý do tại sao có những vấn đề như phá giới, mất định, mất niềm tin ở ai đó.

Nếu tâm từ thực sự, sẽ không bao giờ bị mất mà rất chắc chắn, thậm chí khi chúng ta đối mặt với những sự việc có thể làm mất tâm từ. Như tâm từ của Đức Phật, vì tâm từ của Đức Phật là thực sự, Đức Phật không bao giờ bị mất tâm từ cho tất cả chúng sinh, trong đó bao gồm cả Devadatta, người mà luôn cố gắng làm hại Đức Phật trong suốt cuộc đời. Nếu tâm từ của chúng ta không phải là tâm từ thực sự, chúng ta sẽ mất nó ngay cả khi đối mặt với những trường hợp rất tầm thường.

Nếu như chúng ta không hành thiền, một cách tự nhiên, chúng ta sẽ sử dụng dana, sila, bhavana, panna ngụy tạo. Chúng ta đã quen hài lòng với những thứ ngụy tạo. Chúng ta phải cố gắng làm việc thiện theo cách đúng đắn. Có nghĩa là chúng ta phải làm việc thiện để thực sự là việc thiện: giữ giới thực sự, định thực sự, tuệ thực sự mà không bao giờ có thể mất.

 

  1. Hành thiền theo cách đúng đắn

Nghe Pháp và hành thiền là các việc thiện.

Tôi cũng giúp mọi người làm việc thiện bằng cách làm cho họ nghe Pháp và hành thiền.

Bằng việc dạy Pháp theo cách đúng đắn (chỉ dạy mà thôi, chỉ làm mà thôi), tôi cũng đang giúp mọi người hành thiền theo cách đúng đắn (chỉ thực hành thiền mà thôi)

Nếu tôi dạy Pháp mà chú trọng vào các sự thật ngụy tạo như cái gì, khi nào, ở đâu, thế nào, ai là thầy và thiền sinh thì thiền sinh sẽ hành thiền với sự chú trọng vào các sự thật ngụy tạo

Tôi dạy Pháp theo cách đúng đắn (chỉ dạy mà thôi) với khả năng cao nhất để giúp đỡ cho thiền sinh có thể hành thiền theo cách đúng đắn (chỉ thực hành thiền mà thôi)

Một người không có khả năng chỉ dạy mà thôi

(1)   Mặc dù có thể chỉ sử dụng mà thôi, những cuộc sống khác nhau của thiền sinh, của thầy, thời gian, nơi chốn…

(2)   Có thể chỉ làm mà thôi, chỉ hành mà thôi, chỉ kinh nghiệm mà thôi trong việc nghe Pháp, hành thiền

(có nghĩa là người thầy cần phải làm rất nhiều việc thiện để giúp người khác hiểu Pháp và giải quyết những khó khăn của họ mà không có sự phân biệt và giới hạn, vì thế mà vị thầy có thể chỉ dạy mà thôi, dù cho người đó rất thành thạo và đã thành tựu hoàn toàn trong việc thực hành thiền đúng đắn)

Thực tế là có cách thực hành thực sự trong hành thiền. Người thầy có nhiệm vụ thực sự và thiền sinh cũng có nhiệm vụ thực sự của mình.

Việc có trách nhiệm với bản thân là một loại trợ giúp lớn lao cho việc có trách nhiệm với người khác.

Với tôi, làm việc thiện, chỉ làm mà thôi. Quan trọng là thiền sinh cần cố gắng chỉ kinh nghiệm mà thôi. Tôi sử dụng cuộc sống của vị thầy, cuộc sống của thiền sinh. Các cuộc sống khác nhau chỉ để áp dụng mà thôi, chỉ để kinh nghiệm mà thôi, mà không có dính mắc và xác nhận là tồn tại thực sự.

Cố gắng làm việc thiện theo cách đúng đắn, (chỉ làm mà thôi), mà không dính mắc hay chối bỏ, thay vì làm việc thiện với sự dính mắc chặt chẽ như thường lệ.

 

  1. Khả năng tìm kiếm sự thật

Tôi dạy Pháp theo cách đúng đắn, chỉ dạy mà thôi, vì vậy thiền sinh cần nghe theo cách đúng đắn, chỉ nghe mà thôi và chỉ kinh nghiệm mà thôi. Làm việc thiện là phá vỡ truyền thống, thói quen và lối hành động thông thường. Bằng việc làm việc thiện theo cách đúng đắn, chúng ta có thể thành tựu khả năng không theo quy ước. Thông thường chúng ta sử dụng các hành động vô minh với tham, sân, si. Các loại khả năng ngụy tạo đó chỉ tạo ra những suy nghĩ, sáng tạo, phát minh mang tính tạm thời, giả tạo.

Bằng việc cố gắng làm các việc thiện bố thí, trì giới, hành thiền như Đức Phật đã dạy, sức mạnh của sự xả ly sẽ tăng trưởng. Nếu chúng ta dám từ bỏ tài sản, chúng ta sẽ có được sức mạnh của sự từ bỏ tài sản. Nếu chúng ta không dám từ bỏ như vậy, chúng ta sẽ không có khả năng đó mà chỉ có khả năng làm kinh doanh mà thôi.

Nếu bạn giữ giới, bạn sẽ có sức mạnh của việc từ bỏ tham muốn của tâm. Nếu bạn không giữ giới, bạn sẽ chỉ có sức mạnh từ việc làm gì đó với tham muốn. Bằng việc từ bỏ việc chạy theo các tham muốn và cố gắng tìm ra sự thật, bạn sẽ có khả năng tìm kiếm sự thật. Không quan trọng là bạn có tìm thấy nó không mà quan trọng là đi tìm nó.

Cố gắng làm việc thiện không giới hạn để có khả năng mà bạn chưa từng có.

 

  1. Thay đổi khả năng:

Bản thân tôi có cơ hội hành thiền từ năm 29 tuổi, khi đó tôi nhận ra sức mạnh của sự xả ly và học để có thể sử dụng nó. Tôi từ bỏ công việc thế gian và hành thiền. Bằng việc làm như vậy, tôi có thể phá vỡ lối cư xử truyền thống của những người làm kinh doanh. Tôi đã không thể phá vỡ truyền thống của đời sống sinh viên khi tôi đang đi học. Tôi đánh giá nền giáo dục ngụy tạo như một trò điên rồ. Tôi đã đánh giá quá cao mọi thứ ngụy tạo. Tôi chủ yếu tập trung vào tiền, vấn đề lãi lỗ trong việc kinh doanh. Tôi chỉ có được sức mạnh của sự xả ly đối với truyền thống và những sự thật ngụy tạo khi bắt đầu hành thiền.

Bằng việc làm các việc thiện một cách bền bỉ, khả năng của tôi đã chuyển từ khả năng của việc làm với những kỹ năng ngụy tạo sang khả năng cao hơn của việc làm với sự xả ly. Bằng việc làm các việc thiện, tôi có khả năng từ bỏ suy nghĩ, làm kinh doanh và đánh giá cao việc thế gian. Và tôi có khả năng đánh giá sâu sắc và coi trọng giá trị của sự thật (Phật, Pháp, Tăng)

“Sức mạnh của việc làm gì đó” không hoàn hảo

“Sức mạnh của việc xả ly” là hoàn hảo

 

  1. Làm sao từ bỏ thói quen hành động của tâm

Chúng ta phải làm việc thiện để có thể có đủ nghiệp cao thượng.

Theo thói quen, chúng ta làm việc thiện với tâm chú trọng vào các sự thật ngụy tạo như cái gì, khi nào, ở đâu, ai, thế nào, với những hạn chế và giới hạn và thái độ vô thức về việc trở thành cái gì đó hoặc mọi thứ mà chúng ta thèm muốn hay không đối diện với thứ chúng ta không mong muốn.

Chúng ta phải thực sự làm việc thiện như thế nào: làm việc thiện theo cách đúng đắn bằng việc chỉ làm một cách bền bỉ. Làm càng nhiều càng tốt và bạn sẽ có sức mạnh lớn hơn để tiếp tục làm. (Ví dụ, nếu bạn làm một cách tạm thời, sẽ có sức mạnh tạm thời. Nếu làm với ít sự xả ly, có sức mạnh của việc xả ly ít. Nếu làm với sự xả ly nhiều, có sức mạnh của sự xả ly nhiều. Nếu có thể từ bỏ đến khi không còn gì có thể từ bỏ, bạn sẽ có sức mạnh của sự xả ly hoàn toàn)

Làm với sự xả ly nhằm tạo ra sức mạnh tối cao của sự xả ly

Sức mạnh xả ly càng lớn,

Sự dính mắc vào các sự thật ngụy tạo hay dán nhãn càng ít.

Và bạn sẽ có thể từ bỏ sự chú trọng vào các sự thật ngụy tạo hay dán nhãn. Bạn có thể từ bỏ thói quen truyền thống các hành động của tâm

Theo thói quen, chúng ta sử dụng tâm với sự dính mắc vào các sự thật ngụy tạo hay dán nhãn. Chúng ta sẽ không thể từ bỏ sự dính mắc vào các sự thật ngụy tạo trừ phi chúng ta có sức mạnh của việc làm việc thiện. Chúng ta sẽ không thể dừng lại hay kiểm soát tâm của chúng ta và các hành động của tâm.

Chỉ khi chúng ta cố gắng làm các việc thiện cho Phật, Pháp, Tăng thì chúng ta có thể từ bỏ thói quen hành động của tâm. Chúng ta sẽ có thể kiểm soát được tâm.

 

  1. Sử dụng cuộc sống và tài sản theo cách đúng đắn

Tôi đã xuất gia làm nhà sư nhờ sức mạnh của sự xả ly và bây giờ tôi sử dụng cuộc sống của nhà sư với sức mạnh của sự xả ly.

Cuộc sống và tài sản liên tục trôi đi. Vì vậy sử dụng cuộc sống và tài sản với sức mạnh của sự xả ly thì thích hợp và đúng đắn (sử dụng theo cách đúng đắn). Nếu không, bạn sẽ không thể sử dụng cuộc sống và tài sản vốn chỉ là để xả ly và từ bỏ, theo cách đúng đắn.

Chẳng có gì phải lo lắng cho bản thân hay người khác nếu như có sức mạnh xả ly. Chỉ khi bạn có sức mạnh của sự xả ly, bạn có thể làm việc thiện không giới hạn.

 

  1. Chúng ta có thể áp dụng vào cuộc sống hiện nay không?

Làm việc thiện là cách để tạo ra sức mạnh cao nhất của việc thiện không tham, không sân, không si.

Chúng ta nên cố gắng làm việc thiện (bố thí, trì giới, hành thiền – chỉ làm mà thôi), lại nữa, nếu chúng ta nuôi dưỡng các việc làm ngụy tạo như rải tâm từ đến người khác, chúng sẽ không phải là những việc thiện thực sự mà chỉ là những việc làm ngụy tạo.

Nếu chúng ta có sức mạnh lớn lao của việc làm việc thiện, chúng ta sẽ hiểu về cuộc sống thế nào là chỉ để sử dụng mà thôi. Và chúng ta sẽ hoàn toàn có thể chịu đựng được những tốt và xấu xảy đến trong đời. (như là đau, khổ bệnh, già, chết)

Chúng ta phải tăng khả năng chịu đựng nhiều nhất có thể, như vậy chúng ta có thể thích ứng được với cuộc sống đầy khổ đau hiện nay. Nếu chúng ta có khả năng đó thì không có gì quan trọng với chúng ta, dù tốt hay xấu. Nếu không, mọi thứ dường như quan trọng và theo đó, tạo ra thêm những vấn đề mới.

 

  1. Tại sao chúng ta cần kiên nhẫn với cái đau, sự khổ sở:

Tôi có thể truyền bá Giáo Pháp như Đức Phật đã dạy, qua sức mạnh của sự xả ly, sức mạnh của sự bao dung, và sức mạnh của sự kham nhẫn cái đau, cái khổ mà không dính mắc, kết quả là, không có vấn đề gì với tôi ngay cả khi những người khác cố gây khó dễ cho tôi.

Chúng ta cần phải bao dung với cái đau, cái khổ khi làm các việc thiện bằng cách quy y Phật, Pháp, Tăng. Nếu không thể bao dung với những cái khổ đó, chúng ta sẽ không thể tiếp tục làm việc thiện.

 

  1. Cách làm các việc thiện một cách thực sự:

Chúng ta sẽ không thể tiếp tục hành thiền nếu chúng ta không thể kham nhẫn với những từ ngữ xấu xa (chỉ trích)

Không quan trọng là cái gì đang thay đổi hàng ngày trên thế giới bất ổn của chúng ta. Quan trọng là có sức mạnh tối cao của việc làm việc thiện.

Tôi có thể hành thiền vì tôi có sức mạnh của sự xả ly cuộc sống và tài sản. Nếu không, tôi sẽ phải tiếp tục công việc kinh doanh, sợ mất hết tiền, tôi sẽ phải tiếp tục chữa trị vì sợ chết.

Tôi bền bỉ hành thiền, vì thế mà sức mạnh của sự xả ly ngày càng lớn mạnh. Tôi có thể từ bỏ các truyền thống của thế gian, những cái mà cản trở con đường làm việc thiện thực sự. Bằng việc hành thiền, không cần phải quan tâm đến điều gì nữa (như sức khỏe, sự an toàn, cuộc sống, những lời nhận xét tiêu cực khác nhau…)

Cách làm việc thiện thực sự là cố gắng làm việc thiện mọi lúc, mọi nơi, với mọi người, trong mọi tình huống,  giàu hay nghèo, khỏe hay không khỏe…

 

 

 

 

 

 

 

 

PHÁP THOẠI CỦA THIỀN SƯ U.OTTAMASARA

(Thiền viện Phước Sơn – Ngày 12 June):

Phần Hỏi Đáp

Câu hỏi: Hơi thở của con rất căng và không có tự nhiên. Khi con tập trung vào hơi thở, rất căng thẳng, con phải làm gì?

Nếu quan sát hơi thở có sự căng thẳng, chúng ta có thể chuyển sang đối tượng khác trên thân và tâm. Chúng ta cần có sự chánh niệm, ghi nhận hiện tượng thân, tâm để buông bỏ các thói quen, tập khí của mình. Chúng ta có thể hành thiền bằng cách sử dụng cách này hay cách khác, quan sát bất cứ đối tượng nào ở trên thân và tâm, để có được sự xả ly, buông bỏ các hoạt động theo thói quen cố hữu của tâm.

Khi đạt mức độ hiểu biết hay thực chứng nào đó, tạm gọi là một mức độ giác ngộ nào đó, không còn sự dính mắc thì không nhất thiết phải tập trung vào thân tâm nữa. Có thể tiếp tục tập trung hoặc không tập trung vào các tiến trình thân, tâm nữa.

Trong trường hợp này, thiền sinh đang có vấn đề trong phương pháp, cách thức thực hành tập trung, nảy sinh do có sự dính mắc khi sử dụng một phương pháp cụ thể nào đó.

Trong sự quan sát hơi thở, có sự tập trung, căng thẳng thì có nghĩ là chúng ta đang có sự dính mắc vào việc thiết lập định. Chính vì vậy mà chúng tôi hướng dẫn thiền sinh để thực hành có hiểu biết đúng, tức là đơn thuần quan sát, một hành động đơn thuần mà thôi.

Chúng ta phải nhớ về sự thật là chỉ làm mà thôi, trên cơ sở đó sẽ chọn một phương pháp thích hợp, dù bất cứ phương pháp nào, sự hiểu biết đúng, chân chánh đằng sau sự quan sát là cần thiết.

Nếu như mà chúng ta quan sát hơi thở mà cảm thấy căng thẳng, có thể chuyển sang một trong các đối tượng khác ở trên thân hoặc tâm.

Vấn đề ở đây không phải là chúng ta làm gì hay làm theo cách nào thì quan trọng, mà điều quan trọng là chúng ta đang quan sát mà không có sự dính mắc, điều đó quan trọng hơn.

(What we are doing or how we are doing, that’s not important, to be doing only, without attachment is really important.)

Hiểu được vấn đề tôi giải đáp thì quý vị có thể hiểu ra được con đường mà tôi hướng dẫn thực hành ở đây. Tất cả chúng ta và những gì chúng ta đang làm, tất cả hành động của chúng ta đều là sự thật do tâm tạo. Mà tất cả các sự thật do tâm tạo chỉ để sử dụng mà thôi, nó chỉ đơn thuần là hành động, hoạt động đó mà thôi.

Nếu chúng ta tập trung quan sát một đối tượng nào đó mà có sự dính mắc ở đó là chúng ta thực hành không đúng. Sở dĩ điều này xảy ra là do thiền sinh đang có sự dính mắc đối với phương pháp, cách thức thực hành của mình. Ở đây chúng ta đang học cách xả ly, buông bỏ cả sự dính mắc đối với phương pháp.

Nếu không còn sự dính mắc ở đó, các tiến trình thân tâm chỉ đơn thuần diễn ra, đơn thuần dành cho mục đích sử dụng mà thôi

Đi trên con đường trung đạo có nghĩa là chỉ hành động mà thôi, chỉ kinh nghiệm mà thôi, chỉ sử dụng mà thôi, chỉ hay biết mà thôi. (The only middle way is doing only, using only, knowing only, experiencing only)

Để đi trên con đường trung đạo, chúng ta cần buông bỏ, tách rời ra khỏi khái niệm tôi, ta, của tôi, của ta, cái này, cái kia. (To follow the middle way, we must be free from attachments to the idea of I or you, me or my,  this or that)

Nếu chúng ta có thể buông bỏ, không còn sự dính mắc đối với bất cứ phương pháp, pháp môn nào, thì các vấn đề cũng không còn nảy sinh.

Câu hỏi 2: Xin ngài giảng thêm về sự thật ngụy tạo và sự thật gốc.

Tất cả chúng sinh và không phải chúng sinh đều là sự thật do tâm tạo. Hay nói cách khác, sự thật về một chúng sinh nào đó hay sự vật nào đó, không phải chúng sinh đều là kết quả do tâm tạo.

Những cái mà chúng ta biết về nhân và quả đều là sự thật do tâm tạo. Cái gọi là tôi hay ta, của tôi hay của ta cũng chỉ có ở trong lý trí của chúng ta. Những cái gọi là tôi hay bạn chỉ là những sự thật do tâm tạo ra mà không phải là sự thật tối hậu. Đàn ông hay đàn bà, những thực tế đó chỉ có ở trong tâm, trong lý trí của chúng ta mà thôi.

Lý trí của con người cũng là sự thật do tâm tạo. Chúng ta hiểu nếu chúng ta làm được các việc phước thiện thì sẽ có quả tốt. Sinh ra mang hình hài của các súc sinh là do các hành động bất thiện đã tạo tác trong quá khứ. Tất cả các hành động mà chúng ta tạo tác rồi các kết quả của chúng cũng là các sự thật do tâm tạo. Xét về mặt lý trí, chúng ta sẽ thấy có các sự thực như tôi, ta, đàn ông, đàn bà, cái này, cái kia…Tất cả những câu trả lời xuất phát từ lý trí của chúng ta chỉ đúng với những đối tượng khác, những người khác.

Chúng ta luôn tiếp nhận, quan sát trong cuộc sống hàng ngày với cái nhìn của cái này hay cái kia. Chúng ta thấy là có người này là vì chúng ta thấy có hình dạng của một con người nào đó. Chúng ta thấy có bóng dáng của cái tôi, thấy thông qua hình dạng của một ai đó. Lý trí của chúng ta trả lời, có đáp án cho tất cả các vấn đề theo cách như vậy. Như thế, chúng ta đang sử dụng sự thật do tâm tạo một cách sai lầm.

Sử dụng trí tuệ do tâm tạo là cần thiết. Tuy nhiên, trí tuệ do tâm tạo không bao giờ có thể hiểu được sự thật gốc, hay sự thật gốc, trí tuệ gốc hay trí tuệ nguyên bản.

Bước đầu tiên để tiếp cận được sự thật gốc là chúng ta cần hiểu sự thật do tâm tạo chỉ là sự thật do tâm tạo mà thôi. Bước kế tiếp là chúng ta cần hiểu bản chất hay sự thật của sự thật do tâm tạo. Điều đó có nghĩa là chúng ta chỉ hành động mà thôi, chỉ hay biết mà thôi, chỉ kinh nghiệm mà thôi, chỉ sử dụng mà thôi, không phải để dính mắc hay chối bỏ những điều đó.

(To know the original truth, in the beginning, we need to know created truths as created truths. And then we must try to know the truth of created truths which is to use only, to do only, to know only, to experience only, not to reject and not to attach.)

Theo thói quen, khi chúng ta làm cái gì đó, bao giờ cũng có bóng dáng của tôi hay của một ai đó. Chúng ta có thói quen kinh nghiệm dưới góc nhìn của một ai đó, một con người nào đó. Điều này trở thành một tập quán, một thói quen cố hữu mà chúng ta không biết đến sự thật đằng sau nó.

Chúng ta phải luôn luôn nhớ sự thật do tâm tạo trong tất cả thời gian, trong tất cả hoạt động của mình. Khi việc quan sát, thực hành của chúng ta đã mạnh mẽ hơn, chúng ta cần hiểu về bản chất, sự thật của các hiện tượng do tâm tạo. Có nghĩa là chúng ta chỉ hành động mà thôi, chỉ sử dụng mà thôi, không chỉ áp dụng trong khi hành thiền mà trong tất cả các hoạt động thường nhật khác.

Chúng ta cần hiểu rõ về bản chất, sự thật các hiện tượng do tâm tạo và luôn luôn tuân thủ, hướng theo các sự thật này. Chúng ta sử dụng một cách sai lầm các sự thật do tâm tạo, chính vì vậy mà không thể hiểu được sự thật gốc hay sự thật của sự thật do tâm tạo.

Ngay như là trong hành thiền cũng vậy, hầu hết các thiền sinh cũng sử dụng các pháp môn một cách không đúng đắn. Chính vì vậy mà có nhiều vấn đề nảy sinh trong khi hành thiền.

Những cái biết truyền thống của chúng ta như là cái chúng ta biết về cái xác thân này, là sự hiểu biết sai lầm. Chính vì vậy mà chúng ta hiểu biết không đúng đắn về sự thật do tâm tạo, chúng ta cho rằng sự thật do tâm tạo chính là sự thật nguyên bản.

Chúng ta có thể mắc sai lầm hoặc trở thành ngốc ngếch nhưng đó chỉ là sự thật do tâm tạo và chúng ta có thể thay đổi được điều này. Còn sự thật nguyên bản hay sự thật gốc thì luôn như vậy, bất biến, chúng ta không thể thay đổi.

Chúng ta hiểu một cách sai lầm về sự thật do tâm tạo, chính vì vậy mà sự dính mắc nảy sinh. Nếu chúng ta không thể thay đổi, buông bỏ thì sự hiểu biết sai lầm luôn tồn tại. Vì vậy chúng ta cần hiểu rõ sự thật do tâm tạo chỉ là sự thật do tâm tạo. Tiếp theo, cần hiểu rõ về sự thật, bản chất của các sự thật do tâm tạo. Và kế tiếp, chúng ta chỉ đơn thuần hành động, tất cả hành động chỉ để để sử dụng mà thôi, chỉ kinh nghiệm mà thôi đối với bất kỳ hiện tượng nào xảy ra.

Chúng ta chỉ đơn thuần có sự hay biết đối với bản thân mình hay đối với người khác. Chúng ta chỉ sử dụng các khái niệm về chúng sinh hay không phải chúng sinh mà không có sự dính mắc ở đó.

Càng thực hành nhiều, chúng ta càng hiểu rõ về sự thật gốc, trí tuệ gốc. Sự thật gốc ở đây, tiếng Pali chính là Sắc pháp, tâm, tâm sở và Niết Bàn.

Câu hỏi 3: Thiền sư có nói về thiền nói vế chánh niệm hơi thở. vậy phương pháp chánh niệm hơi thở theo phương pháp quán niệm xứ là như thế nào? Thiền sư có thể hướng dẫn rõ về phương pháp thực hành cụ thể?

Chúng ta có thể chánh niệm về hơi thở, chánh niệm về tâm, hay chánh niệm về sự khổ. Có nghĩa là chúng ta có thể chánh niệm về bất cứ đối tượng nào. Dưới góc nhìn của quán Pháp, có nghĩa là tức là chúng ta phải chánh niệm, quan sát về những cái gì đang xảy ra vào thời khắc hiện tại, đó chính là các pháp đang sanh khởi và hoại diệt.

Nếu chỉ chánh niệm hơi thở, biết thở ra, thở vô thì sự hay biết đó chưa phải là hoản thiện. Nếu có cái đau, chúng ta biết cái đau là cái đau thì đó chưa phải là sự hiểu biết hoàn toàn đúng đắn. Nếu chỉ hiểu đơn thuần cái đau chỉ là cái đau thì đó là sự hiểu biết chưa hoàn thiện.

Tương tự như vậy, nếu chúng ta chỉ biết rằng hoạt động của tâm chỉ là hoạt động của tâm, đó chưa phải là sự hiểu biết hoàn thiện. Xét về mặt bản chất, tâm không phải là cái gì đó, mà bản chất là luôn luôn có tính vô thường.

Lý trí của chúng ta là sự thật do tâm tạo, chính vì vậy mà sự hiểu biết thông thường của chúng ta cũng là do tâm tạo, và chúng ta chỉ sử dụng các sự thật do tâm tạo mà thôi. Và dần dần chúng ta sẽ tiếp cận sự thật gốc mà bản chất của sự thật gốc là luôn luôn vô thường.

Nếu chúng ta tiếp tục hiểu biết sai lệch về sự thật do tâm tạo thì chúng ta không thể nào hiểu được sự thật gốc. Quán Pháp là hiểu rõ về bản chất của các Pháp, mà bản chất của các pháp là luôn có tính vô thường.

Chúng ta không thể nào hiểu đúng, hiểu rõ về pháp nếu như còn sự ham muốn nào đó. Dĩ nhiên là trong chúng ta vẫn còn sự ham muốn. Chính vì vậy mà chúng ta cần có sự buông bỏ, xả ly đối với các ham muốn này. Chúng ta hãy ngưng sự hướng tâm, sự chú ý của mình đối với các sự ham muốn đó. Chính vì do có sự dính mắc đối với xác thân này mà chúng ta có các ham muốn. Các vấn đề nảy sinh là do chúng ta hướng tâm đến sự ham muốn của mình. Như thế, chúng ta đang sử dụng một cách sai lầm các sự thật do tâm tạo.

Đức Phật luôn mong muốn tất cả các chúng sinh đều biết đến pháp hành và có sự thực hành đối với giáo Pháp. Chính vì vậy hành thiền là chúng ta đang cố gắng làm theo mong muốn của Đức Phật.

Đức Phật đã chỉ ra cho chúng ta con đường trung đạo. Nhưng mà chúng ta lại dính mắc với cái này hay cái kia, phương pháp này hay phương pháp khác, nơi này hay nơi kia. Đi theo con đường trung đạo là chúng ta buông bỏ phương pháp này hay phương pháp kia, nơi này hay nơi kia, người này hay người kia và buông bỏ cả về thời gian.

Chính vì vậy mà chúng ta cần phải thực hành theo những gì Đức Phật đã chỉ dạy, những gì mà ngài mong mong muốn và chúng ta cần phải học cách buông bỏ những ham muốn của mình.

Dĩ nhiên là mỗi người chúng ta vẫn còn có sự ham muốn, sự ham muốn bao giờ cũng có ở đó. Chỉ để sử dụng mà thôi có nghĩa là chúng ta phải từ bỏ sự ham muốn này. Chúng ta chỉ làm những điều cần phải làm, chứ không phải làm những điều muốn làm. Ăn những gì cần phải ăn chứ không phải ăn những gì chúng ta muốn.

Chúng ta hành thiền vì chúng ta phải hành thiền chứ không phải hành thiền vì ham muốn. Nếu như chúng ta buông bỏ được sự hiểu biết sai lầm về các sự thật do tâm tạo, bao gồm các ham muốn của mình thì dần chúng ta sẽ hiểu được sự thật gốc. Để hiểu được các hiện tượng đang xảy ra trong khoảnh khắc hiện tại và hiểu được bản chất luôn luôn vô thường của các hiện tượng thì chúng ta cần có được năng lực của sự buông bỏ, năng lực của sự xả ly rất lớn.

Như vậy chúng ta hãy chánh niệm về các hiện tượng thân tâm và buông bỏ đi các sự dính mắc của mình. Cũng như hiện nay tôi đang hướng dẫn cho quý vị cách chúng ta buông bỏ sự hiểu biết thông thường của mình.

Để hiểu được về sự hoại diệt nào đó thì không quá khó. Nếu chúng ta để ý, ghi nhận, quan sát về các hoạt động của tâm thì sẽ nhận ra được sự vô thường của tâm, nếu chúng ta để ý về cái khổ thì cũng sẽ nhận ra được sự biến diệt của các sự khổ này. Và cũng tương tự như vậy, nếu chúng ta để ý, ghi nhận về hơi thở thì sẽ nhận ra được sự biến diệt của hơi thở.

Những sự ghi nhận, hay biết này đều có sự dính mắc ở đó. Chúng ta dính mắc tới hơi thở, tới tâm, tới sự khổ. Để buông bỏ những sự dính mắc này, cần có một sự ghi nhận đơn thuần đối với hơi thở, tâm hay bản chất khổ.

Nếu có sự dính mắc trong khi ghi nhận hơi thở, tâm, sự khổ thì điều chúng ta biết về sự vô thường chỉ là sự vô thường của tâm, của hơi thở, của cái tâm, còn bản chất thực của sự vô thường chỉ là vô thường mà thôi, không phải là vô thường của cái gì đó.

Đứng về mặt hiểu biết chung, chúng ta đã biết, mọi thứ đều vô thường, nếu hiểu như vậy thì chúng ta có sự dính mắc vào sự vô thường này, là vô thường của cái gì đó, vô thường của hiện tượng nào đó.

Hiểu về vô thường của cái gì đó, hiện tượng gì đó thì không quá khó. Để hiểu được bản chất của sự vô thường, cần có sự xả ly đối với hiện tượng mà chúng ta quan sát, cần có sự xả ly với cái gọi là tâm, là thân. Tâm của chúng ta chỉ để sử dụng mà thôi, chúng ta cũng đừng quá chú ý tới cái gọi là tâm. Chúng ta có thể ghi nhận tâm mà không có sự dính mắc ở đó. Điều đó có nghĩa là chỉ sử dụng mà thôi.

Để có thể đơn thuần sử dụng, cần luôn nhớ về sự thật rằng chỉ để sử dụng mà thôi và cố gắng xả ly sự dính mắc vào thân hay tâm. (To be using only, just pay attention to the truth to use only and try to detach from our body and mind). Chúng ta cần có sự chuyển đổi từ sự thật do tâm tạo sang sự thật hay bản chất của các sự thật do tâm tạo này, tức là các sự thật này chỉ để sử dụng mà thôi.

Vì chưa có được thói quen chánh niệm hay ghi nhận về sự thật chỉ để sử dụng mà thôi, ban đầu chúng ta có thể gặp khó khăn. Theo thói quen thông thường, chúng ta thường chánh niệm về thân và tâm, điều này thì không quá khó. Vì dính mắc vào các hành động truyền thống, vì vậy chúng ta chưa thể chánh niệm, ghi nhận đối với việc chỉ để sử dụng mà thôi.

Nếu chúng ta không thể buông bỏ được sự dính mắc vào các sự thật do tâm tạo thì chỉ có thể hiểu được sự vô thường của các sự thật do tâm tạo mà thôi. Và để hiểu được về sự thật gốc mà bản chất của các hiện tượng này là luôn luôn vô thường, cần thiết có sự xả ly đối với tất cả các hiện tượng do tâm tạo. Bản chất thực của các pháp là tính chất luôn luôn vô thường, chứ không phải là sự vô thường của các hiện tượng hay sự vật do tâm tạo (real dhamma is evernew impermanance nature, not the impermanance nature of created truths)

Không cần phải hành thiền chúng ta cũng có thể hiểu được sự vô thường của các hiện tượng do tâm tạo. Mục đích của sự hành thiền là để giúp chúng ta hiểu được về sự thật gốc mà bản chất thực của sự thật gốc là tính chất luôn luôn vô thường. (Aim of meditation is to know about the original truth which is impermanance nature)

Bản chất luôn luôn vô thường có năng lực của sự biết, năng lực của sự cảm nhận và năng lực của sự hành động. Những cái gọi là nóng lạnh, cứng mềm, đứng yên hay chuyển động là những năng lực của bản chất luôn luôn vô thường. Vì không hiểu được về bản chất luôn luôn vô thường, chúng ta cho rằng tôi biết, tôi cảm nhận, tôi thế này, tôi thế kia.

Quý vị tiếp nhận sự hiểu biết về các sự thật này từ tôi, thông qua sự thực hành của mình, quý vị sẽ có sự hiểu biết của riêng mình đối với các sự thật này.

 

Insight talks to Vietnamese yogis (August 16-2012)

Insight talks to Vietnamese yogis by Sayadaw U Ottamasara @ ThanLyin ThaBarWa Meditation Centre on Aug 16-2012.

Con đường trung đạo duy nhất là con đường không chỉ có hành thiền mà còn là làm tất cả các việc phước thiện khác. Thiền tập là cần thiết nhưng chỉ thiền tập thôi thì chưa đủ.Cốt lõi của việc hành thiền là sự buông bỏ các Ý nghiệp.Mục đích của việc giữ Giới là từ bỏ tất cả các than nghiệp và khẩu nghiệp.Mục đích của việc bố thí là sử dụng tất cả các chúng sinh vô tình cũng như hữu tình với mục đích xả ly.

 

Thông thường, tất cả chúng ta đều sử dụng năng lực ngụy tạo để Bố thí, Trì giới và Hành thiền.Cách làm việc truyền thống của chúng ta không trung đạo.Thông thường, chúng ta tiếp cận các chúng sinh vô tình và hữu tình với sự chấp thủ. Thông thường, chúng ta sử dụng Thân nghiệp, Khẩu nghiệp, Ý nghiệp để làm mọi việc.

 

Chúng ta không dùng Thân nghiệp, Khẩu nghiệp, Ý nghiệp để xả ly. Vì vậy, chúng ta đang tạo ra các Thân-Khẩu-Ý nghiệp. Ý tôi muốn nói ở đây là, chúng ta đang làm các việc thiện không theo cách đúng đắn. Chúng ta sẽ luôn làm bất cứ điều gì làm được với thân khẩu ý nghiệp mà không với mục đích xả ly.Chúng ta thường làm bởi vì chúng ta chỉ có năng lực bình thường chứ không phải năng lực xả ly.Chúng ta thường bắt chước lẫn nhau trong thân khẩu và ý nghiệp.Bởi vì chúng ta chưa có được cái năng lực của sự xả ly. Có rất nhiều người trên thế giới này đang làm việc thiện nhưng phần lớn mọi  người đều bắt chước lẫn nhau. Thí chủ bắt chước thí chủ, thiền sinh bắt chước thiền sinh, chỉ là bắt chước hành động của nhau mà thôi.Điều mà chúng ta thực sự cần làm là có thể ngừng lại cái việc bắt chước đó, bắt chước cái hành động đó. Tất nhiên là chúng ta cần làm việc thiện, nhưng chúng ta cần phải biết chủ định làm việc thiện với mục đích để từ bỏ tất cả, tất cả mọi người và tất cả các hành động.Chúng ta có thể bắt đầu như vậy nhưng chúng ta không nên kết thúc như thế, cái việc mà bắt chước các hành động của thiền sinh khác thì chỉ có thể làm vào lúc đầu mà thôi. Việc làm của tôi hiện giờ là sửa chửa các tà kiến ở những người muốn làm việc thiện. Vào lúc đầu, khi mới bắt đầu tôi cũng không thể dạy như cách đó mà tôi dạy mọi người phải làm như thế này và phải làm như thế kia, nhưng đó chỉ là ở thời gian ban đầu mà thôi. Bây giờ cùng với thời gian thì tôi dạy cho mọi người cách sử dụng cái chánh kiến, hiểu biết đúng đắn chứ không còn kiểm soát các cái nghiệp thân khẩu ý của mỗi người nữa. Bởi vì cái nghiệp thân khẩu ý của bạn, cái việc làm đó sẽ tùy thuộc vào mỗi tình huống cụ thể, nhưng cái điều mà bạn không nên quên, không được quên đó là cái chánh kiến về hành động, là cần sử dụng cái hành động để xả ly, ở cái mục đích tối thượng đó. Tôi đã dạy thiền được hơn 10 năm nay, chính vì vậy mà về sao tôi có thể dạy đúng đắn hơn mà không có sự dính mắc của các đệ tử vào tôi và vào lời dạy của tôi, không có sự dính mắc vào lời dạy của tôi cũng như vào lời dạy theo phương pháp truyền thống và không có sự chấp thủ vào kết quả. Bất cứ điều gì xảy ra dù bạn có hiểu hay không, chỉ biết rằng đó là kinh nghiệm thôi đừng nên chấp thủ vào việc cái này đúng, cái này sai. Không chỉ làm việc thiện mà tất cả các hành động khác cũng cần thiết; tùy vào từng tình huống nhưng dù làm gì đi nữa chúng ta đừng quên sự thật là làm tăng lên cái khả năng xả ly chứ không phải tăng lên cái khả năng làm việc. Khi ban đầu chúng ta chỉ bắt chước các vị đệ tử chứ không bắt chước được người thầy nhưng sau đó chúng ta cần vượt lên trên người đệ tử và có khả năng bắt chước được người thầy, bắt chước Đức Phật. Khi mới ban đầu chúng ta cần thực hành với tư cách 1 người đệ tử nhưng sau đó chúng ta cần phải cố gắng thực hành vượt qua người đệ tử. Đa phần mọi người làm việc thiện không thể  vượt lên trên hành động của người đệ tử bởi vì họ sử dụng những hiểu biết không trọn vẹn.

Khi chúng ta có được cái năng lực của sự xả ly.Năng lực đó sẽ từ bỏ các khái niệm về các chúng sinh hữu tình cũng như vô tình thì khi đó không còn lo lắng sự dính mắc đối với cuộc sống, cũng như đối với mọi thứ, với con người.Thông thường thì chúng ta sử dụng cuộc sống của chúng ta với sự chấp thủ bởi vì cái năng lực của chúng ta hiện có chỉ có thể là chấp thủ chứ không thể từ bỏ.Chính vì vậy khi mà chúng ta làm bất cứ điều gì thì chúng ta làm cho bản thân với khái niệm tự ngã.Khi chúng ta có được cái năng lực từ bỏ xả ly thì cái điều gì chúng ta làm cũng chỉ để sử dụng mà thôi, bất cứ cái gì xảy ra cũng chỉ là kinh nghiệm mà thôi.Với quan kiến tôi làm việc đó, tôi hành thiền, tôi bố thí; đều từ cái hiểu biết không trọn vẹn. Cái sai lầm thực sự nó liên quan đến cái trí tuệ hay cái hiểu biết mà chúng ta đang sử dụng bởi lẽ cái hiểu biết đó nó không được hoàn chỉnh, nó không được trọn vẹn. Chúng ta cho rằng cái này đúng, cái này sai, cái này tốt, cái kia xấu và câu trả lời đó đến từ cái hiểu biết không trọn vẹn. Đó là bởi lẽ chúng ta không có khả năng sử dụng sự thật ngụy tạo một cách đúng đắn, tức là chỉ sử dụng mà thôi. Sự thật ngụy tạo hay năng lực ngụy tạo có nghĩa là xuất hiện bởi hành động, bởi sự tạo tác trong đầu. Tất cả chúng sanh hữu tình và vô tình đều liên quan đến tâm của chúng ta, đến sự sống và cái chết, ngay cả tâm của chúng ta nó sinh khởi là bởi sự tạo tác, nó không phải là sự thật gốc hay sự thật nguyên thủy.Sự thật ngụy tạo thì chỉ sử dụng cái năng lực ngụy tạo và trí tuệ ngụy tạo.Chính vì vậy các năng lực ngụy tạo và trí tuệ ngụy tạo nó không hoàn hảo, không trọn vẹn. Chúng ta biết về Đức Phật, chúng ta biết về giáo lý của Người, chúng ta biết về Tăng nhưng chúng ta chỉ biết với năng lực ngụy tạo với trí tuệ ngụy tạo và chính vì thế cái hiểu biết đó nó không hoàn hảo.

Sở dĩ tôi giải thích cho các bạn như vậy vì tôi không muốn dừng lại ở cái trí tuệ ngụy tạo hay ở cái năng lực ngụy tạo. Cái chân lý về năng lực ngụy tạo hay trí tuệ ngụy tạo thì không để mà chối bỏ cũng như không để dính mắc, chỉ sử dụng mà thôi.

 

Câu hỏi của thiền sinh:

Ví dụ nama hay rupa thì cũng không để dính mắc hay chối bỏ mà chỉ để sử dụng mà thôi có phải không?

Thiền Sư:

Đúng như vậy. Cái cách dạy của tôi hiện nay là giúp cho chúng ta để sử dụng sự thật ngụy tạo theo 1 cách đúng đắn chứ không đưa ra cái lời giải thích trực tiếp về giáo lý của Đức Phật với những cái kinh nghiệm mà Người đã dạy, chúng ta hiểu về giáo lý của Đức Phật nhưng cái hiểu đó nó tới từ trí tuệ chưa trọn vẹn, chính vì vậy chúng ta không nên dừng lại ở cái hiểu biết hiện giờ của chúng ta. Nếu bạn chấp thủ vào cái hiểu biết của mình về Đức Phật và giáo lý của Ngài là đã đúng rồi thì bạn sẽ kết thúc ở trong cái hiểu biết không hoàn hảo đó.Tôi muốn thay thế chánh kiến vào cái hiểu trước đây của bạn và chính vì vậy hãy chỉ sử dụng cái hiểu này thôi và bằng cách đó thì các bạn sẽ xả bỏ được cái hiểu biết đã có trước đây.Chúng ta cho rằng chúng ta hiểu về danh và sắc, tức là điều mà Đức Phật đã dạy cho chúng ta, nhưng trên thực tế thì chúng ta chưa thật sự hiểu về danh và sắc chính vì vậy mà tôi muốn bạn từ bỏ cách hiểu thông thường.Danh sắc và Niết Bàn là những sự thật nguyên thủy sự thật gốc, trong khi đó thì chúng ta lại sử dụng cái trí tuệ ngụy tạo để hiểu nó.Vì vậy chỉ khi nài có được cái trí tuệ gốc thì nó mới hiểu được sự thật gốc.Chính vì lẽ ấy cái hiểu biết của chúng ta về Danh, Sắc, Niết Bàn nó không đúng. Với cái trí tuệ chưa hoàn hảo chúng ta biết về cái sự thật gốc không hoàn hảo nhưng điều mà chúng ta cần làm là nên biết các sử dụng cái hiểu biết chưa hoàn hảo ấy 1 cách đúng đắn trên con đường trung đạo một cách rất là tự nhiên. Tức là thông thường thì chúng ta có thói quen chấp thủ vào cái hiểu biết của ta rằng đây là Danh, đây là Sắc, chúng ta biết về Danh, về Sắc và Niết Bàn từ trước và vấn đề là chúng ta sử dụng những cái hiểu biết đấy với sự chấp thủ, chúng ta chấp thủ vào cái hiểu biết không hoàn hảo đó. Và chính vì lẽ ấy chúng ta không thể sử dụng cái sự thật ngụy tạo một cách đúng đắn.Nếu chúng ta chấp thủ vào cái hiểu biết không hoàn hảo thì chúng ta sẽ không thể biết một cách hoàn hảo.Tất cả cái trí tuệ ngụy tạo, cái hiểu biết ngụy tạo và cái năng lực ngụy tạo mà chúng ta có thì không phải để chối bỏ và không phải để dính mắc.Vấn đề là chúng ta đang sử dụng những cái đó với sự dính mắc, chúng ta nên cố gắng sử dụng chúng với sự buông xả.Làm mọi thứ với sự dính mắc và chấp thủ là cái bản chất tự nhiên của chúng ta.Chúng ta cần biết cách làm thế nào mà không có sự dính mắc, làm mà không có sự dính mắc; để có thể thoát khỏi sự dính mắc thì chánh kiến là rất cần thiết. Chúng ta cần phải thay đổi cái hiểu biết của chúng ta về tất cả các sự thật  ngụy tạo là không để chấp thủ, chỉ sử dụng, chỉ kinh nghiệm, chỉ làm, chỉ biết mà thôi. Chúng ta hiểu rằng chúng ta phải học, phải làm việc, chúng ta phải sống, chúng ta phải ăn nhưng những cái điều đó là do có cái hiểu biết sai lầm hoặc đúng hơn là chưa hoàn hảo. Đúng là chúng ta có thể ăn, chúng ta có thể ngủ, chúng ta có thể làm việc nhưng chúng ta không cần thiết phải chú ý đến những điều đó, không nhất thiết chú trọng quá mức đến hành động, đến nguyên nhân hay đến kết quả, hay bất cứ điều gì xảy ra, tất cả các hành động chỉ là cái hành động mà thôi không phải để chú tâm quá bất cứ cái điều gì xảy ra chỉ là kinh nghiệm thôi, không nên chú trọng quá .Tôi đang ốm, tôi đang già hay tôi đang sắp chết không chú ý đến kết quả, chỉ là kinh nghiệm mà thôi. Chúng ta có thể làm tất cả những thứ đó nhưng điều mà chúng ta phải làm là làm mà không có cái sự chú trọng quá mức đến hành động, đến con người, đến thời gian, nơi chốn hay phương pháp; bằng cách này thì tất cả các hành động của chúng ta sẽ chỉ là hành động mà thôi. Nếu chúng ta không thể bỏ được cái thói quen chú ý, chú trọng này thì tất cả các hành động của chúng ta làm sẽ là làm với sự chú ý; Và cái điều mà chúng ta làm, chú ý đến thời gian, chú ý đến nơi chốn, chú ý đến phương pháp và chú ý đến kết quả; Chú trọng hay chú ý quá mức ở đây có nghĩa là chú ý đến nguyên nhân, đến kết quả, đến thời gian, đến nơi chốn và cái đó thì là sai, tất cả đều chỉ là sự thật ngụy tạo mà thôi, tất cả sự thật ngụy tạo không cần thiết phải để chúng ta phải chú ý đến, không cần thiết phải chú tâm quá mức chỉ để sử dụng mà thôi. Theo truyền thống thì chúng ta không thể nào sử dụng cái sự thật ngụy tạo một cách trung đạo, đúng đắn.Chính vì vậy bất cứ  khi nào chúng ta sử dụng sự thật ngụy tạo thì ngay lập tức có sự chú trọng quá mức vào bản thân hay đối với những người khác, hay đến thời gian hay đến nơi chốn.Chúng ta cần phải cố gắng làm những việc thiện mà chú trọng đến sự xả ly.Nếu chúng ta chưa làm được những việc thiện thì chúng ta cần làm việc thiện và bây giờ nếu chúng ta đang làm việc thiện thì chúng ta cần phải làm việc đó một cách đúng đắn, chỉ làm mà thôi, kinh nghiệm mà thôi, biết mà thôi.Tất cả chúng ta đều hành thiền nhưng mà chúng ta hành thiền với sự dính mắc, chúng ta có những kinh nghiệm hành thiền mà chúng ta không thể từ bỏ, dính mắc vào những kinh nghiệm đó.Chính vì vậy mà chúng ta đang sử dụng sự thật ngụy tạo, chúng ta đang không sử dụng sự thật ngụy tạo một cách đúng đắn.Trên thực tế cần phải nhớ là chỉ sử dụng mà thôi, chỉ làm mà thôi, kinh nghiệm mà thôi, biết mà thôi.Nếu các bạn không nghe những lời dạy này thì rất là khó mà để có thể từ bỏ cái hiểu biết thông thường, cái hiểu biết chưa trọn vẹn.Chúng ta có thể làm những việc thiện, chúng ta có thể bố thí, chúng ta có thể hành thiền, chúng ta có thể giữ giới.Nhưng khi chúng ta làm các việc thiện thì vấn đề là chúng ta làm với cái hiểu biết chưa hoàn hảo. Điều tôi muốn nói ở đây là cái hành động thì đúng nhưng cái  hiểu biết thì chưa đúng, chưa phải như là Đức Phật. Cái lời dạy của tôi thì nó liên quan đến cái điều mà Đức Phật muốn chúng ta hiểu khi mà chúng ta sử dụng sự thật ngụy tạo. Đó là lý do nếu như chúng ta có thể sửa chửa cái hiểu biết thì chúng ta sẽ có thể làm được các việc thiện theo đúng con đường trung đạo.

 

Câu hỏi:

Chúng con có thể làm gì để có được trí tuệ trọn vẹn mà thiền sư nói tới.

Trả lời:

Chúng ta cần phải lấy tất cả các hành động của Đức Phật làm tấm gương được chừng nào tốt chừng ấy.Làm các việc thiện có nghĩa là chúng ta đều bận rộn, nhưng trên thực tế thì chúng ta chỉ làm cho bản thân mà thôi.Các loài thú vật chúng nó cũng bận rộn mà chúng nó chỉ bận rộn cho bản thân chúng nó.Cái điều mà chúng ta cần làm là chúng ta cần làm việc nhưng không phải chỉ cho bản thân mà chúng ta cần làm cái điều cần thiết. Chúng ta cần làm việc không phải chỉ cho bản thân mà chúng ta cần làm cái điều cần thiết có nghĩa là chúng ta làm không chỉ để cho 1 người hay cho tất cả mà chúng ta làm cái điều cần phải làm. Cái hành động đó nó sẽ mang lại lợi lạc cho bản thân cho mọi người hay có thể cho tất cả nhưng cái điều cốt yếu là phải làm cái điều cần thiết đó ở một thời điểm cụ thể không phải vì tự ngã, làm việc phục vụ cho bản thân thì không được coi là làm việc thiện, làm việc phục vụ cho tổ quốc cũng không phải là làm việc thiện trọn vẹn. Chúng ta cần cố gắng làm cái gì cần thiết nó có thể mang lại lợi ích cho 1 người lạ hay cho những người khác trong tương lai. Cái cốt yếu ở đây là làm cái điều cần thiết và chúng ta cần phải làm mà không có khái niệm về tự ngã ở đây có nghĩa là chú ý đến một người hay tất cả mọi người thì có nghĩa là làm việc với tự ngã. Khi mà có khái niệm là làm cho 1 người này hay làm cho tất cả tức là đang làm với tự ngã. Bạn cần phải làm cái điều cần thiết mà thôi.Khi mà chúng ta hành thiền thì thông thường chúng ta không thể bỏ được cái sự tập trung quá mức vào bản thân.Và đó là làm với tự ngã, đó là làm với cái cách không đúng đắn.Hãy chỉ thực hành với cái ý niệm để từ bỏ tất cả.Cái sự chú trọng vào một cái gì đó có nghĩa là chỉ làm thôi, chỉ thực hành thôi. Con đường trung đạo duy nhất chỉ là làm, chỉ kinh nghiệm, chỉ biết. Nếu chúng ta làm việc vì tiền thì đó không phải là cái cách đúng đắn.Nếu chúng ta làm việc vì danh vọng thì đó không phải là cái cách đúng. Chúng ta làm chỉ là làm việc mà thôi không cần chối bỏ hay dính mắc vào các công việc của thế gian. Có nghĩa là chỉ làm thôi, chỉ sử dụng thôi.Vấn đề ở chổ là chúng ta khó mà làm cái việc thiện trong đó chỉ có cái làm, chỉ có sự sử dụng mà thôi. Để có thể theo được con đường trung đạo thì chúng ta cần phải bỏ tất cả các ý niệm về chúng sinh hữu tình cũng như vô tình và tất cả các nghiệp thân khẩu ý chỉ với phẩm chất xả ly đối với tất cả các hoạt động thì chúng ta mới có thể làm các điều chúng ta phải làm và chúng ta mới có thể không làm cái điều chúng ta không nên làm.

Mục đích của việc từ bỏ tất cả mọi người, tất cả mọi thứ và tất cả mọi hoạt động để có thể kiểm soát được tất cả các nghiệp thân khẩu ý. Nếu như có được cái năng lực xả ly thì chúng ta có thể kiểm soát ngay cả ý nghiệp bằng cách ấy chúng ta không nghĩ cái điều mà chúng ta không nên nghĩ, chúng ta sẽ không nói cái điều mà chúng ta không nên nói và chúng ta sẽ có thể nói cái điều mà chúng ta cần nói và làm cái điều mà chúng ta cần làm. Chúng ta có thể không làm cái điều mà chúng ta không nên làm. Nếu chúng ta không thể xả ly mọi thứ thì sẽ có cái ham muốn sở hữu cái này hay cái kia; chẳng hạn như tôi muốn có 1 cái máy camera hay tôi muốn có một cái máy tính đó là vì chúng ta không thể xả ly. Thông thường thì chúng ta sử dụng mọi thứ là để chấp thủ chứ không để xả ly. Nếu chúng ta không thể kiểm soát được hành động ấy thì sẽ có cái ham muốn, muốn có muốn sỡ hữu bất cứ những gì mà chúng ta có thể sở hữu. Nếu không có được năng lực xả ly thì sẽ có cái ham muốn làm một cái gì đó. Chẳng hạn khi chúng ta thấy người ta hát và múa thì sẽ có cái ham muốn tôi muốn làm như vậy đó là bởi vì chưa có được cái năng lực xả ly đối với hành động.

Câu hỏi:

Vậy thì cái năng lực xả ly này tới từ đâu thưa Ngài?

Trả lời:

Với cái hành động xả ly thì không chỉ xả ly đối với tất cả người mà đối với tất cả các hành động.Chúng ta cần phải từ bỏ tất cả các hành động, từ bỏ tất cả những gì chúng ta sở hữu.Một cách thông thường thì chúng ta không thể nào từ bỏ được cái mà chúng ta sỡ hữu. Chính vì vậy mà chúng ta cần bố thí, chúng ta cần phải từ bỏ hay xả ly những cái gì là của riêng chúng ta. Chúng ta càng làm như vậy thì cái khả năng xả ly sẽ càng tăng lên. Chúng ta phải thực hành rất là trái ngược với những cái gì mà mọi người khác đang làm trên thế giới này.Bởi vỉ mọi người trên thế giới này đang làm với sự dính mắc không phải với sự xả ly. Tất cả mọi người kể cả những con vật thì luôn luôn chấp thủ vào mọi thứ. Chúng cố gắng làm cái mà chúng có thể.Họ nói cái gì họ có thể nói, họ nghĩ cái gì mà họ có thể.Họ không biết rằng rất là cần thiết để từ bỏ mọi hành động, từ bỏ tất cả mọi người.Chính vì vậy lý thuyết ở đây là cái hiểu biết đúng, là hãy xả ly các hành động, tất cả mọi thứ, tất cả mọi người kể cả cuộc đời của chúng ta.Chúng ta thường chăm sóc bản thân mình đó là bởi vì cái hiểu biết chưa trọn vẹn.Chánh kiến thì cũng là chỉ sử dụng và chỉ sử dụng mà thôi.Cuộc đời này và những cuộc đời khác thì cũng để mà từ bỏ, không phải để dính mắc, không phải để chấp thủ, không phải để chối bỏ, không phải để chấp trước, chỉ sử dụng mà thôi. Cái hiểu biết đúng cần phải được sử dụng ngay từ lúc bắt đầu chứ không phải đến phút cuối.

Câu hỏi:

Liệu con có thể tóm tắt cái lời mà Ngài đã dạy như thế này được không? Cái điều duy nhất mà chúng ta thấy, chúng ta biết đó là cái sự thật ngụy tạo. Chúng ta không thể nào tránh khỏi điều ấy được, đó là lý do tại sao chúng ta phải thực hành. Chúng ta sinh ra với cái sự thật ngụy tạo và chúng ta cần phải sử dụng cái điều ấy một cách khôn ngoan và trên con đường trung đạo như là một phương tiện, một công cụ để có được cái trí tuệ tối thượng. Như vậy khi mà làm tất cả mọi thứ chỉ để mà làm, chỉ để sử dụng, không phải vì kết quả, không phải vì tự ngã, chỉ cho cái kinh nghiệm mà thôi và cùng với năng lực xả ly thì khi ấy chúng ta có thể đạt được cái trí tuệ tối thượng phải không ạ?

Trả lời:

Chỉ khi mà nào cái năng lực xả ly của chúng ta chưa hoàn hảo thì chúng ta không thể nào làm được cái việc đó là chỉ sử dụng, chính vì lẽ đó chúng ta cần phải từ bỏ tất cả ngay cả cuộc sống của chúng ta, chúng ta cần phải có sự dũng cảm để từ bỏ tất cả những gì chúng ta sở hữu. Chúng ta cần từ bỏ tất cả các hành động: thân, khẩu, ý nghiệp và bằng cách ấy thì năng lực xả ly sẽ được trọn vẹn 100%. Nếu chúng ta không thể từ bỏ các hành động thì chúng ta sẽ bắt chước những người khác bởi vì chúng ta không thể kiểm soát các hành động của chúng ta chính vì vậy khi một người làm một cái gì đó thì tự nhiên chúng ta sẽ nảy lên ham muốn cũng làm như họ, nếu như có được cái năng lực xả ly kiểm soát các hành động của chúng ta thì sẽ không cần bắt chước người khác. Cũng như vậy đối với thân và tâm chúng ta đang sử dụng thì không gì khác biệt, nhưng sử dụng cái năng lực đó thì cái sự kiểm soát sẽ thay đổi.Hiện giờ thì cái năng lực ngụy tạo đang kiểm soát.Cái năng lực ngụy tạo đó nó chỉ giới hạn thôi, nó không hoàn toàn, không trọn vẹn, chính vì vậy có rất nhiều vấn đề trong đời sống của chúng ta bởi vì cái năng lực mà chúng ta đang sử dụng nó không trọn vẹn.Chính vì vậy mà chúng ta cần phải thay đổi cái năng lực.Chúng ta hiện giờ vẫn đang sử dụng cái năng lực ngụy tạo.

 

Câu hỏi:

Như vậy có phải bây giờ Ngài đang nói rằng chúng ta cần thực hành các hạnh bồ tát không? Hay thực hành các ba la mật?

Trả lời:

Các ba la mật là cần thiết cho tất cả mọi người để đạt đến giác ngộ thật sự. Làm các việc thiện là hoàn toàn cần thiết, rất là dễ mà có sự hiểu sai  rằng “Tôi đúng rồi, tôi như thế này là ổn rồi”, rất là dễ dàng để suy nghĩ như vậy, nhưng để đi con đường Trung Đạo thì rất là khó khăn.

 

Câu hỏi:

Như vậy có vẻ như là nó ở một cái vòng rằng trước hết chúng ta cần có một cái năng lực xả ly để làm các việc thiện một cách đúng đắn và làm được các việc thiện một cách đúng đắn thì sẽ có được cái năng lực xả ly phải không ạ?

Trả lời: Đúng như vậy, nhân và quả, để làm được các việc thiện nếu chúng ta không thể từ bỏ cái việc thế gian thì chúng ta không thể làm các việc thiện một cách thực sự hoàn hảo.

Câu hỏi: Như vậy thì năng lực xả ly có nghĩa là phải là tâm xả không ạ?

Trả lời:Không, không phải là upekha. Đó là làm với chánh kiến mà có sự dính mắc.Tôi muốn nói rằng trong tâm chúng ta có rất nhiều sự dính mắc, chúng ta đang sử dụng tâm với sự dính mắc.Điều chúng ta cần phải làm là hãy tháo bỏ tất cả sự dính mắc trong tâm của mình, bằng cách ấy thì tâm sẽ có được một cái năng lực đặc biệt mà nó có thể từ bỏ mọi sự dính mắc ở tâm. Sự dính mắc liên quan đến tâm của chúng ta chứ không phải với thân hay với cặp mắt của chúng ta bởi có sự dính mắc thì tâm không được tự do và có rất là nhiều vấn đề về tâm, bởi vì có rất nhiều sự dính mắc trong tâm, nếu có được cái năng lực xả ly kiểm soát tâm thì sẽ không còn vấn đề về tâm nữa. Các bạn phạm phải sai lầm bởi vì bạn không kiểm soát được tâm của mình, nếu như có được cái năng lực xả ly thì bạn sẽ tránh được cái việc phạm phải sai lầm, bởi vì khi đó năng lực đó nó được trọn vẹn.

Câu hỏi: Xin ngài đưa ra 1 ví dụ cụ thể. Tất cả chúng ta đều biết rằng chúng ta cần phải từ bỏ sự dính mắc nhưng phải làm thế nào?

Trả lời: Sự thực hành này liên quan đến cái hiểu, đó là điều chính yếu chứ không phải chúng ta có thể làm gì. Khi mà chúng ta chết thì chúng ta buộc phải từ bỏ tất cả. Từ bỏ tất cả hay từ bỏ tất cả mọi người khác thì không có gì phải khó khăn lắm, từ bỏ hành động thì không có gì khó khăn lắm. Ví dụ như khi chúng ta bị ốm, chúng ta không thể làm gì, chúng ta không thể đi được, chúng ta buộc phải nằm trên giường.Nhưng cái mà chúng ta phải làm, đó là làm các việc thiện mà mình thấy khó làm.Để làm được các việc thiện một cách trọn vẹn thì chúng ta phải làm các việc thiện mà mình thấy khó làm.Thông thường, chúng ta chỉ làm các việc thiện mà chúng ta có thể làm được, với cái cách ấy thì có rất nhiều việc thiện mà chúng ta không thể làm.Chính vì vậy, khi mà cái nhân các việc thiện không hoàn hảo thì kết quả sẽ là kết quả không hoàn hảo. Cái hiểu biết đúng hay sự đi theo con đường Trung Đạo nó phải mang đến cái kết quả hoàn hảo. Nếu chúng ta muốn có kết quả hoàn hảo thì chúng ta phải làm được các việc thiện một cách hoàn hảo. Đó là lý do vì sao mà chúng ta cần phải làm nhiều việc thiện hơn. Khi chúng ta làm việc thiện thì chúng ta cần phải có chánh kiến.Chánh kiến và làm những việc thiện mà mình thấy khó làm, cả hai thứ ấy đều thật sự cần thiết.

 

Câu hỏi: Khi Ngài nói đến sự buông xả sự dính mắc, thì để buông xả sự dính mắc, trước hết phải thấy được sự dính mắc trong tâm, khi mà mình nhận ra được đó là sự dính mắc thì tự nhiên tâm sẽ buông bỏ, có phải vậy không ạ?

Trả lời: Chưa hoàn toàn, chưa đủ khi mà bạn chú ý đến tâm thì thường sự dính mắc nó đã nằm ở đó rồi. Bởi sự chú ý thì tạo nên sự dính mắc.Khi bạn chú ý đến tâm thì sẽ càng có sự dính mắc đối với tâm.Cái điều quan trọng hơn sự chú ý trước khi mà chú ý tâm thì bạn phải hiểu là phải có chánh kiến trước đã.Nếu như có chánh kiến thì bạn có thể có sự chú ý tâm.Nếu không có chánh kiến thì càng chú ý đến tâm thì càng có sự dính mắc vào tâm.Chánh kiến quan trọng hơn là chú ý đến tâm, thân, hay đến sự khổ.

 

Câu hỏi: Con muốn đưa ra một ví dụ để Ngài chỉ thêm được rõ, khi tới đây lần trước, lúc đầu con cũng chưa thật sự có ấn tượng mạnh nhưng sau đó lời dạy của Ngài thấm dần vào và sau khi rời trung tâm này về thì ấn tượng trở nên sâu sắc và thôi thúc con trở lại đây học với Ngài. Khi nhìn vào tâm thì con thấy có sự dính mắc ở trong đó.Đó chỉ là hiện tượng diễn ra, chứ con không có chú tâm vào, khi nhìn vào đó thì sự dính mắc không còn nữa.Phương pháp này cung cấp một chánh kiến tốt, cái hiểu đó thôi thúc con trở để học thêm. Con kể lại tất cả để Ngài chỉ cho con trong tiến trình đó đâu là chánh kiến, đâu là dính mắc, đâu là hiểu biết.

Trả lời: Khi tôi bắt đầu hành thiền thì tôi cũng phải đi theo cách truyền thống nhưng mà tôi cũng không thấy thỏa mãn với phương pháp truyền thống khi mà tôi cố gắng vượt lên trên. Chính vì vậy tôi cố gắng vượt lên trên truyền thống, để có thể vượt lên trên truyền thống thì chúng ta cần từ bỏ truyền thống nhưng hầu như tất cả các thiền sinh và các thiền sư đều nói về phương pháp truyền thống mà thôi, mà tôi lại cảm thấy không thỏa mãn về sự thực hành của mình. Chính vì vậy tôi cố gắng tìm ra con đường đúng, để có thể vượt lên trên truyền thống thì tôi phải nghe lời dạy trực tiếp của thiền sư Mô-goc.Ở thời gian đầu trước đó thì tôi vẫn nge lời dạy gián tiếp những vị khác đã học từ thiền sư Mô-goc và chính vì vậy mà tôi đã từ bỏ việc nghe những lời dạy của các vị thầy khác và tôi cố gắng tìm ra câu trả lời bằng cách nghe nhiều hơn lời dạy trực tiếp của thiền sư Mô-goc và thiền sư Đen-co và tôi đã phải trải qua rất nhiều năm tháng để nghe những lời dạy của thiền sư Mô-goc, không phải chỉ nghe nhưng cả việc thực hành nữa. Bằng cách ấy, cùng với một sự cố gắng liên tục, nỗ lực liên tục thì tôi đã có thể thực hành vượt lên trên truyền thống và sự thực hành này không thể nào giải thích bằng lời nhưng tôi cảm thấy rất hài lòng vì đã vượt lên trên truyền thống. Chính vì vậy, tôi vẫn tiếp tục theo cách thức như vậy. Về sau thì khá là khác với các thiền sinh truyền thống là họ nghe cả cái lời của thiền sư Mô-goc và các thiền sinh khác nhưng mà các lời dạy giữa thiền sư Mô-goc và các vị khác thì rất là khác nhau.Lúc đầu thì tôi vẫn không biết tại sao nhưng mà khi nghe lời giảng của thiền sư Mô-goc thì tôi thấy rất là hài lòng.Đó là vì thiền sư Mô-goc dạy gần với chân lý hơn là các cách dạy truyền thống. Đó là vì có nhiều thiền sinh chỉ hiểu được tiếng Myanmar mà thôi, vì vậy chúng tôi chỉ được nghe lời dạy của Đức Phật bằng tiếng Myanmar chứ không bằng tiếng Pali, vì thế chúng tôi chỉ có thể so sánh những lời dạy giáo lý bằng tiếng Myanmar không có giáo lý trực tiếp từ lời dạy của Đức Phật. Điều mà tôi muốn nói cho cô biết là cô muốn theo phương pháp này là bởi vì cái phương pháp này hay lời dạy này nó gần với sự thật hơn. Những lời dạy bằng tiếng Anh mà cô đã được nghe hay thông qua tiếng Anh hoặc là dịch bằng Tiếng Anh.Là một thiền sinh Việt Nam thì cô chỉ được nghe những lời dạy bằng tiếng Việt chứ không từ tiếng Myanmar.Chính vì vậy có sự khác biệt giữa những lời dạy này.Còn về sự dính mắc thì sự dính mắc đó là cần thiết khi mà tôi nghe ngài Mô-goc Sayadaw để có thể từ bỏ nghe những lời dạy khác. Tôi nghe thiền sư Mô-goc với cái năng lực xả ly đối với các lời dạy khác, đó là lý do vì sao cuối cùng thì tôi đã thành công trong việc từ bỏ sự dính mắc của tôi vào thiền sư Mô-goc và vào những lời dạy của Ngài, cũng như vậy, bạn nên làm như thế, cái sự dính mắc vào lời dạy của tôi và tôi là để từ bỏ cái mà bạn đã hiểu trước đây. Cái hiểu biết này nó trọn vẹn hơn cái hiểu biết trước của bạn, đó là lý do khi mà bạn thực hành theo phương pháp này thì bạn nên sử dụng chánh kiến. Ở cái thời gian đầu khi mà tôi mới dạy thiền thì tôi không thể dạy như thế này, mà để giải quyết vấn đề đó tôi đã làm nhiều việc thiện mà cần thiết. Cũng như vậy, bạn cũng nên làm như thế nên theo cách này bằng cách làm nhiều việc thiện với cái chánh kiến, và làm đó là những việc thiện mà bạn khó làm.

 

Hỏi: Khi con quay lại trường thiền Shiu Oo Min, con cảm thấy có một sức mạnh nào đó rất là sâu, rất là thấm trong mỗi việc làm tốt của mình, con nhớ lại lời dạy của Ngài.

Trả lời: Đó là nhu cầu lớn nhất trong thế giới của những người hành thiền, hiện giờ tôi cố gắng đáp ứng cái nhu cầu đó bằng cách làm nhiều việc thiện cần thiết, sẽ không khó khăn trong tương lai nếu như bạn sử dụng cái hiểu biết này. Điều mà bạn cần làm bây giờ là làm những việc thiện bạn thấy khó làm, bạn sử dụng chánh kiến với nó.

 

Hỏi: Như vậy để tóm lại, Ngài nói đến chánh kiến là làm việc thiện mà không chú ý đến tự ngã, chú trọng đến kết quả, không chú trọng công việc thực sự mà chỉ là để cái kinh nghiệm, chỉ để là làm để mà làm thôi có phải không ạ?

Trả lời: Không chú trọng quá đến thân và tâm, không chú trọng đến khái niệm chỉ làm mà thôi. Nếu chúng ta có thể bỏ sự chú ý quá mức đó thì sẽ có được cái năng lực của sự xả ly.Nếu như có chánh kiến thì bạn sẽ thực hành một cách đúng đắn.

 

Hỏi: Khi trở về chúng con sẽ đi bằng cái tâm xả ly hết sức vượt bậc của mình rồi sau khi xả ly được rồi thì những cái gì mình học được ở pháp thế gian dù là pháp thiện thì nó cũng từ từ rụng rời sau đó thì mình sẽ trí tuệ hơn phải không?

Trả lời: Đúng rồi.

 

Hỏi: Chúng con là người Việt Nam từ xa đến đây để cầu học một giáo lý, những lời dạy của Ngài để chúng con có thể xả ly, từ bỏ để đánh đổi giáo lý giải thoát. Chúng con đến đây với ý thức là muốn từ bỏ để được giải thoát, nhưng từ lâu chúng con đã nương tựa vào xã hội, vào đoàn thể, vào gia đình, có rất nhiều cái nương tựa mà chúng con không dám từ bỏ, trên ý thức thì dám từ bỏ nhưng trong tiềm thức thì không vì lẽ đó chúng con không thể nào đạt được một giáo lý thâm sâu. Xin Ngài hãy cho một lời khuyên để giúp chúng con dám từ bỏ, để dám đánh đổi thân mình để đạt được giáo pháp cao thượng.

Trả lời: Vấn đề này không chỉ liên quan đến một người nào mà đối với tất cả các thiền sinh. Nếu như cái vấn đề này nó càng ngày càng giảm thì thế giới sẽ thay đổi.Tôi đang cố gắng giải quyết cái vấn đề đó bằng cách làm như tôi làm hiện giờ, không chỉ dạy thiền mà cũng làm các việc thiện cần thiết.Cái trung tâm này không chỉ có ý nghĩa về cơ sở vật chất. Sau hơn 10 năm nỗ lực thì bây giờ tôi có thể lãnh đạo trung tâm theo cách thức hiện giờ. Bên ngoài trung tâm thì rất là khó mà bỏ được cái sự dính mắc ra khỏi tâm nhưng ở đây thì sẽ không quá khó khăn để bỏ sự dính mắc ra khỏi tâm mình. Những cái trung tâm thiền như thế này nó sẽ lớn mạnh không phải chỉ có một mà sẽ có nhiều và cùng với thời gian thì sẽ càng dễ dàng hơn để đi theo cong đường Trung Đạo. Tất cả mọi người cần phải làm như vậy không có cách nào khác cả.

 

Hỏi: Câu hỏi vừa rồi là làm thế nào thì có phải câu trả lời của Ngài là hãy thực hành đủ những điều mà Ngài dạy phải không?

Trả lời: Đúng vậy.

Hỏi: Chánh kiến và các việc thiện, những cái đó phải luôn luôn đi với nhau có đúng không ạh?

Trả lời: Đúng vậy, khi chúng ta làm việc thiện thì chúng ta cần phải có chánh kiến và bằng cách ấy thì chánh kiến mới trở nên thực sự. Tại thời điểm hiện tại nó chỉ là cái văn tuệ vay mượn từ tôi mà thôi.Nhưng về sau bạn sẽ có cái hiểu biết từ trong chính mình chỉ bằng sự thực hànhthì  bạn mới có thể hiểu, chỉ qua sự thực hành thì tôi mới hiểu được cái điều gì thực sự có giá trị.

 

Hỏi: Mặc dù được học thiền đã khá lâu nhưng chưa bao giờ con thấy một vị nào nói về sự buông bỏ không giới hạn, đó là cái mà con đã đi tìm từ lâu. Chính vì vậy khi mà được nghe Ngài dạy về điều đó, nó đã tạo ra sức mạnh thôi thúc con trở lại đây và con thấy rằng đó không phải là sự dính mắc, vậy đó là gì?

Trả lời: Không chỉ các thiền sinh mà tất cả mọi người trên giới này đều đang sử dụng cái hiểu biết sai lầm, cái tà kiến chính vì vậy rất là cần thiết phải chia sẻ chánh kiến. Nếu đa phần mọi người đều sử dụng chánh kiến thì sẽ có ít vấn đề hơn.

 

Hỏi: Làm thế nào để áp dụng chánh kiến khi mà tham, sân, si và ngã mạn đang nổi lên, thông thường thì chúng ta thường sử dụng cái sự thật ngụy tạo với sự dính mắc, chính vì vậy, bản thân cái lời dạy của tôi cũng là một sự thật ngụy tạo, nhưng nó không có sự dính mắc ở trong đó. Một cách truyền thống theo thông thường thì chúng ta luôn sử dụng sự thật ngụy tạo với sự dính mắc. Các bạn cần lắng nghe cái lời dạy của tôi, bởi vì có cái năng lực của sự xả ly trong cái sự thật ngụy tạo mà tôi nói ra, bạn không nên chấp nhận sự dính mắc.Cái điều mà bạn cần làm là thay đổi nguyên nhân chứ không giải quyết cái vấn đề.Thông thường chúng ta chỉ cố gắng thay đổi kết quả mà thôi. Điều mà chúng ta cần làm là ngừng lại thân, khẩu, ý nghiệp. Tham, sân, si hay dính mắc sinh khởi là bởi có sự chú ý quá mức đến các sự thật ngụy tạo.Tâm của chúng ta cũng là một sự thật ngụy tạo, cơ thể của chúng ta, cuộc sống của chúng ta cũng là sự thật ngụy tạo.Chúng ta thường có thói quen chú ý đến sự thật ngụy tạo.Có nghĩa là chúng ta đang sử dụng cái sự thật ngụy tạo cùng với sự dính mắc.Chẳng hạn như chúng ta thường chăm sóc thân và tâm của chúng ta, và để làm cái điều ấy, chúng ta sử dụng tâm nhưng tâm cũng là sự thật ngụy tạo.Thân và tâm đều là sự thật ngụy tạo.Có nghĩa là chúng ta sử dụng sự thật ngụy tạo để chú ý đến sự thật ngụy tạo, đó là lý do mà có sự dính mắc. Điều mà chúng ta phải làm là sử dụng cái sự thật ngụy tạo trong tâm của chúng ta để mà nhớ cái chân lý rằng: không chấp thủ, chỉ sử dụng thôi, chỉ kinh nghiệm thôi, chỉ làm thôi, chỉ biết thôi. Có nghĩa rằng chúng ta sử dụng sự thật ngụy tạo chỉ sử dụng thôi mà không tạo nên sự chú ý quá mức đến cái sự thật ngụy tạo.Sự thật ngụy tạo chỉ nên ở cái phía của chủ thể chứ không phải ở phía khách thể và cũng không ở cả hai bên.Không phải ở chủ thể cũng không phải ở khách thể vì cả hai thái cực đó đều là sự thật ngụy tạo, và chúng ta sử dụng sự thật ngụy tạo như vậy bằng cách suy nghĩ về sự thật ngụy tạo. Nếu như không sử dụng sự thật ngụy tạo theo cách đúng đắn, tức là chỉ sử dụng thôi, có nghĩa là chú ý đến cái sự thật chỉ để sử dụng mà thôi, chỉ kinh nghiệm thôi, có nghĩa là bất cứ điều gì xảy ra đối với thân và tâm chúng ta cần phải nhớ rằng nó chỉ là kinh nghiệm thôi, chứ không phải chú ý đến cái sự thật ngụy tạo hay cái hành động. Cái gì đang xảy ra ở trong thân tôi, trong tâm tôi, chúng ta luôn luôn nghĩ về tương lai.Tương lai cũng là một sự thật ngụy tạo, tâm cũng là một sự thật ngụy tạo. Chính vì vậy, chúng ta đang sử dụng sự thật ngụy tạo với sự dính mắc, đó là lý do chúng ta phải từ bỏ tất cả các ý nghiệp và chỉ hãy để ý đến các lời dạy của tôi. Ngay cả Đức Phật và lời dạy của Ngài cũng là sự thật ngụy tạo, nhưng mà bây giờ chúng ta học về Đức Phật và giáo lý của Ngài một cách gián tiếp.Không còn có Đức Phật nữa để bạn có thể hỏi xem cái hiểu biết của bạn có đúng hay không.Chính vì vậy, tôi đang cố gắng giải quyết vấn đề đó. Nếu bạn nghe cái lời dạy của tôi thì bạn có thể hỏi xem cái hiểu biết của bạn có đúng hay không và chỉ bằng cách ấy bạn mới hiểu được những điều mà Đức Phật đã dạy cùng với giáo lý của Người. Tôi có thể thành công trong việc từ bỏ việc chú trọng các hành động của mình và thân mình. Tôi có thể xả lý các hành động của mình, đó là lý do vì sao tôi có thể đại diện cho Đức Phật và các hành động của Ngài. Cũng như vậy, bạn cần phải cố gắng, hãy cố gắng như thế, bằng cách ấy, các bạn có thể đại diện cho Đức Phật và các hành động của bạn đại diện cho Ngài.

 

Câu hỏi: Con nhận thấy rằng trong sự thực hành của mình có những trở ngại và mất chánh niệm rất nhiều, có lẽ là do không có đầy đủ chánh kiến. Con nhận thấy rằng có khi buổi sáng thì hiểu thế này nhưng chiều đã thấy khác rồi, điều con muốn hỏi là có phải là cần phải có chánh kiến ngay cả trước khi hành thiền để đừng dính mắc vào việc hành thiền và không bị dính mắc ngay cả vào Đức Phật, dính mắc vào trí tuệ mà mình có được, đó có phải là điều Ngài muốn nói không?

Trả lời: Đúng như vậy.

 

Câu hỏi: Có phải khi mà Ngài dạy chỉ kinh nghiệm thôi thì nó cũng giống như kỹ thuật hành thiền mà theo đó khi mà chúng ta thực hành và trở nên hay biết bất cứ hiện tượng nào trên thân và trên tâm mà không có gán một khái niệm nào đó thì có phải là những người thực hành như thế cũng đang trên con đường kiến tạo nên chánh kiến hay là điều Ngài muốn nói là chúng ta cần có chánh kiến trước đã.

Trả lời: Vào thời điểm hiện giờ thì bạn không thể hiểu cái chánh kiến bằng tự mình được, đó là lý do tại sao bạn cần đến những lời dạy như thế này nhiều hơn. Bạn cần phải gắng sử dụng cái hiểu biết đó mỗi một khi nào, trong bất cứ việc gì bạn làm.Nếu bạn quên cái chánh kiến, bạn cần nghe cái lời dạy này nữa và chú ý đến cái chánh kiến thì quan trọng hơn ở thời điểm hiện tại đối với bạn. Nếu bạn đã thành công trong việc thay thế cái chánh kiến thay cho tà kiến thì điều mà bạn cần làm là làm những việc thiện khó làm và sử dụng chánh kiến vào những việc đó, làm hay không làm, tồn tại hay không tồn tại, biết hay không biết, không có quan trọng, đừng có chú trọng vào quá đến  hành động, quá đến nỗ lực hay không biết thì không quan trọng, không cần phải cố làm, làm hay không làm, biết hay không biết nó đã là trong bản chất của chúng ta rồi, nó là tự nhiên rồi, bản chất đó chỉ để sử dụng thôi, chỉ kinh nghiệm thôi, không phải để chú ý hay chú trọng quá mức. Không cần phải chú trọng đến bản thân hay người nào khác. Những khái niệm một người hay nhiều người chỉ để sử dụng mà thôi. Chính vì lẽ ấy, tôi đang làm cái mà cần phải làm.Nhưng mọi người lại cho rằng tôi làm việc cho tất cả mọi người, bởi vì họ nhìn từ cái khía cạnh gọi là ngã kiến.Thực ra thì khi tôi làm thì tôi làm với cái không có ý niệm về tự ngã. Cái điều mà tôi làm là làm một cách đúng đắn, tôi có thể sử dụng tất cả các nguyên nhân và các kết quả, những cái hiểu và không hiểu một cách đúng đắn, chỉ là sử dụng mà thôi, vì vậy các hành động của tôi nó rất là có năng lực, bởi vì có cái sự thật, có cái chân lý trong hành động của tôi. Sự thật là chỉ sử dụng thôi, sử dụng sự thật ngụy tạo mà thôi.Chúng ta đang sử dụng cuộc sống của chúng ta với cái sự chấp thủ, với tự ngã, chính vì vậy chúng ta cần phải làm những việc không có khái niệm về ngã, chú ý đến sự thật ngụy tạo thì sẽ tạo nên cái ngã.Chính vì vậy, thay cho việc chú ý đến sự thật ngụy tạo, chúng ta cần phải chú ý đến chân lý về sự thật ngụy tạo mà chân lý đó là chỉ sử dụng, chỉ kinh niệm mà thôi.

 

Câu hỏi: Khi chúng con nghe và hiểu thì chúng con cũng phải nhớ rằng cái hiểu biết đó cũng chỉ để sử dụng mà thôi có phải không ạh?

Trả lời: Đúng vậy, không chỉ đối với cái hiểu mà đối với tất cả.

Câu hỏi:Kể cả Niết Bàn hay sao?

Trả lời: Không, bạn không thể. Niết Bàn là sự thật gốc, là sự thật nguyên thủy rồi.

Câu hỏi: Khi con tới đây và gặp bạn của mình thực hành ở đây, con đã nói rằng để đến đây thực hành thì phải sử dụng được Tiếng Anh mới có thể học chánh kiến được. Bạn con có nói rằng, bạn không cần phải nghe nhiều mới học được, tới đây nhìn hành động và làm theo các hành động của Ngài, làm những gì cần làm và cảm nhận được từ trường của Ngài thì tự nhiên bạn sẽ thay đổi, khi đó con không tin là điều đó có thể. Vì để có chánh kiến thì cần phải được nghe và hiểu nhưng sau đó khi trở lại trường thiền cũ thì con lại thấy lời của bạn con là đúng vì con có cảm nhận được năng lực từ trường của Ngài vẫn đi theo con và ở lại trong mấy ngày rất là mạnh mẽ. Con có cảm nhận rằng sự buông xả và chánh kiến của Ngài có năng lực và ảnh hưởng đến mọi người có đúng vậy không?

Đáp:Đúng vậy.

Câu hỏi:Vừa rồi thiền sư mới dạy chúng con hãy hướng đến hành động vô ngã, hành động vô tác có phải vậy không ạh?

Đáp: Đúng như vậy.

Câu hỏi: Nếu thiền sinh Việt Nam muốn đến trường thiền của Ngài và ở lại tu tập lâu dài thì Ngài có chấp nhận không và sẽ ở được bao lâu?

Đáp: được và có thể ở lại lâu chừng nào bạn muốn.

Câu hỏi: Con có một người bà con có một ý  kiến như thế này: “chừng nào cô ấy còn có các hành động thiện và bất thiện thì cô ấy vẫn còn phải đi trong vòng luân hồi vì vậy cô ấy không muốn làm gì nữa cả. Vậy Ngài có thể đưa ra một lời khuyên thế nào cho cô ấy để cô ấy thay đổi cái tri kiến của mình về việc đó.

Đáp: Đó cũng là chú trọng quá mức đến sự thật ngụy tạo được tồn tại và không tồn tại, làm và không làm, biết và không biết; đó là chú trọng quá mức đến sự thực ngụy tạo. Nếu chúng ta không thể sử dụng cái sự thật ngụy tạo một cách đúng đắn nghĩa là chỉ sử dụng mà thôi thì điều đó không bao giờ có sự chấm dứt cả, nếu bạn không thể chấp nhận cái ý tưởng đó thì bạn sẽ chấp thủ vào cái ý tưởng đó luôn luôn và bây giờ như thế, quá khứ cũng như thế và tương lai cũng như thế đó không phải là tự do, đó không phải là cách hiểu đúng đắn. Nếu bạn đang đi trên con đường sai thì những gì bạn làm đều uổng phí. Chính vì vậy điều mà chúng ta cần làm là cần phải biết sử dụng chánh kiến và từ bỏ những tà kiến.

Câu hỏi: Như vậy bất cứ điều gì xảy ra chỉ cần nhìn nhận rằng đó là sự thật ngụy tạo, là kinh nghiệm đúng không ạh?

Đáp: Đúng vậy và không chấp thủ rằng đó là thực, bất cứ cái gì chúng ta làm đừng cho rằng đó là thực, chỉ là việc làm thôi.

Hỏi: Cái từ sự thực ngụy tạo của Ngài sử dụng giống như là từ pannati hay là khái niệm ở trong kinh có phải vậy không?

Đáp:Bất cứ những gì chúng ta làm thì đều là nhân và quả, hay khái niệm thì cũng như vậy.

Hỏi: Ngài nói về xả ly có nghĩa là Ngài muốn nhắc khi mình xả ly là chắc chắn sẽ chửa được bệnh tham, khi chữa được bệnh tham thì phiền não không bám được. Khi phiền não không bám được thì thấy rõ trí tuệ đến.Khi trí tuệ đến thì thấy rõ vô thường và nhân quả.Khi thấy được như vậy thì mình sẽ ra đi thôi phải không ạh?

Đáp: cái hiểu của bạn là nó mang cái ngã kiến ở bên trong, nó không có cái hiểu về vô ngã ở trong đó. Trên thực tế là bây giờ bạn không từ bỏ cái hiểu đó được, một lúc khác khi mà bạn có thể từ bỏ cái hiểu biết hạn chế đó, khi đó bạn sẽ đi tới Niết Bàn.

Hỏi: Về lý thuyết thì hiểu như vậy nhưng khi thực hành bị luyến ái cột vô thì gượng dậy không được vậy thì mình phải cố gắng thôi, nhưng phải cố gắng bằng phương pháp nào?

Đáp: Đó cũng là câu hỏi chung của mọi người, làm thế nào để tư tuệ thành trí tuệ thực sự. Thay cho việc nghĩ như vậy thì hãy nghĩ đến chân lý mà thôi; đừng nắm giữ, đừng chấp thủ chỉ sử dụng mà thôi, không chấp thủ. Cái vấn đề thực sự là chúng ta chú ý quá nhiều đến bản thân, chính vì vậy cái ý niệm về tôi luôn luôn xuất hiện trong tâm của bạn, để có thể ngưng lại cái tôi trong tâm mình thì bạn phải chú ý đến sự thật, đến chân lý, chỉ sử dụng mà thôi, chỉ kinh nghiệm mà thôi. Bạn cần phải chú ý đến chân lý về sự thật ngụy tạo, cố gắng nhớ được cái chân lý rằng chỉ sử dụng thôi, chỉ kinh nghiệm thôi.Bằng cách ấy bạn có thể chú ý đến bản thân mình và người khác.

Câu hỏi: Điều Ngài muốn dạy là phải có chánh kiến đầu tiên, rồi có sự buông xả, vô ngã, vô tướng đó là những chân lý không thể diễn tả bằng lời, không thể giải thích cho hết được nên ai muốn học, muốn biết thì hãy đến đây học với Ngài phải không?

Đáp:Đúng như vậy, hiện giờ đó là cách duy nhất.

Hỏi: Khi Ngài nói luôn luôn nhớ chân lý là luôn luôn nhớ sự thật ấy từng phút trong mọi hoàn cảnh nếu không ta sẽ quay lại với các suy nghĩ thông thường của mình đúng không ạh?

Đáp: Đúng rồi.

Hỏi: Bất cứ khi nào có chánh kiến thì chánh niệm đã có mặt rồi đúng không ạh? Chính vì vậy chánh kiến phải đi hàng đầu.

Đáp:Đúng rồi.

Hết